Chương 1: Cơ sở lí thuyết và vấn đề hữu quan Ở chương này, chúng tôi sẽ trình bày những vấn đề về phong cách học, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, lí thuyết truyện ngắn, từ vựng – ngữ nghĩa, cú pháp, tổ chức văn bản, ngôn ngữ đối thoại và một số nét chính về cuộc đời, sự nghiệp nhà văn Lý Văn Sâm để làm nền tảng nghiên cứu. Chương 2: Đặc trưng từ vựng - ngữ nghĩa, cú pháp, tổ chức văn bản trong truyện ngắn Lý Văn Sâm Ở chương này, chúng tôi sẽ tập trung khảo sát, thống kê, phân tích để từ đó làm rõ đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa, cú pháp, tổ chức văn bản trong truyện ngắn Lý Văn Sâm. Chương 3: Đặc trưng ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Lý Văn Sâm Trong chương 3, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát những đoạn đối thoại trong truyện ngắn của Lý Văn Sâm để tìm ra phong cách ngôn ngữ của nhà văn. Tiếp đến, chúng tôi sẽ rút ra kết luận chung về những vấn đề đã đi khảo sát, thống kê, phân tích từ đó làm rõ đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Lý Văn Sâm.
Sau cùng là phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ VẤN ĐỀ HỮU QUAN 1. Phong cách và phong cách học 1. Phong cách Phong cách vốn là một từ rất quen thuộc và cũng là đề tài thường được mọi người đưa ra bàn luận trong các cuộc trò chuyện.
Chẳng hạn, mọi người có thể bàn về phong cách của một nghệ sĩ A nào đó bao gồm cách anh ta ăn mặc, cách ăn ta giao tiếp, cách anh ta trình diễn nghệ thuật,… hoặc thậm chí, chỉ cần nghe một bài hát nào đó, người ta có thể nhận ra ai là người trình bày bởi cách xử lí bài hát mang đậm phong cách cá nhân của người nghệ sĩ đó. Với cách sử dụng này, phong cách được hiểu như đặc trưng riêng, nổi bật, lặp đi lặp lại để nhận biết đối tượng này với đối tượng khác hay nói một cách ngắn gọn hơn, phong cách là dấu ấn cá nhân. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, phong cách được định nghĩa như sau: 1. Cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên cái riêng của một người hay một lớp người nào đó.
Chẳng hạn: có phong cách sống giản dị, phong cách nghệ sĩ. Những đặc điểm có tính chất hệ thống về tư tưởng và nghệ thuật, biểu hiện trong sáng tác của một nghệ sĩ hay trong các sáng tác thuộc cùng một thể loại nói chung. Chẳng hạn: phong cách của Nguyễn Du, phong cách thơ mới. Dạng của ngôn ngữ được sử dụng trong những yêu cầu chức năng điển hình nào đó, khác với những dạng khác về đặc điểm từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm.
Chẳng hạn: phong cách khẩu ngữ, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Định nghĩa trên đã cho chúng ta một cái nhìn toàn diện hơn về khái niệm phong cách. Phong cách không chỉ dùng để nói về cung cách sinh hoạt, làm việc, ứng xử trong cuộc sống hằng ngày mà còn dùng với tư cách là một thuật ngữ khoa học trong các lĩnh vực nghiên cứu như: lí luận văn học và ngôn ngữ học. Như vậy, khi nói đến phong cách chính là nói đến cái riêng, có tính hệ thống, điển hình tạo thành đặc trưng riêng của đối tượng giúp chúng ta có thể khu biệt được đối 8 tượng này với đối tượng khác.
Từ đó, có thể hiểu, phong cách ngôn ngữ là những đặc trưng riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ của một chủ thể hoặc trong việc sử dụng ngôn ngữ ở một lĩnh vực giao tiếp nào đó. Phong cách học Thuật ngữ phong cách (Stylos (Hi Lạp), Stylus (La Mã), Style (Pháp)) bắt nguồn từ Hi Lạp – La Mã chỉ nét chữ, bút pháp, nghĩa rộng hơn nữa là tình yêu ngôn ngữ, nghệ thuật dùng từ và như vậy, phong cách học ngay từ khái niệm ban đầu thuộc về lĩnh vực ngôn ngữ học. Trên thế giới, phong cách học có lịch sử phát triển lâu dài. Trải qua chặng đường 25 thế kỉ, lí thuyết phong cách học ngày càng hoàn thiện và góp phần quan trọng trong trong nghiên cứu văn học và ngôn ngữ.
Để có được nền móng vững chắc như ngày hôm nay, phong cách học đã được biết đến với tên gọi là tu từ học (còn gọi là mỹ từ pháp) kéo dài 24 thế kỉ. Tu từ học cổ điển (Classical Rhetoric) là tiền thân của phong cách học đã có mặt cách đây 2500 năm. Ở phương Tây, từ thời Aristote, nhà triết gia này đã cho ra đời một cuốn sách nổi tiếng Tu từ học. Sau một quá trình nghiên cứu của nhiều thế hệ nối tiếp, tu từ học cổ điển đã đóng một vai trò quan trọng trong nghệ thuật hùng biện, sáng tác, phê bình văn học.
Như vậy, trong một thời gian dài, phong cách học đứng giữa ngôn ngữ và văn chương nên đôi khi việc xác định nội hàm khái niệm phong cách học vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Do đó, một số nhà nghiên cứu đã đề nghị phân biệt rõ hai khái niệm phong cách, nhìn chung đó là sự phân biệt giữa khái niệm phong cách học thuộc ngôn ngữ học và khái niệm phong cách học thuộc nghiên cứu văn học. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, phong cách học hiện đại (Modern Stylistics) ra đời và với hơn một thế kỉ phát triển, phong cách học hiện đại đã xác định một cách rõ ràng đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu. Phong cách học hiện đại bắt đầu với nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ, Charles Bally, đầu thế kỉ XX, với quyển Khái luận về phong cách học tiếng Pháp.
Charles Bally tập trung nghiên cứu tính biểu cảm của ngôn ngữ, và ông cho đó là vấn đề nền tảng của việc nghiên cứu phong cách học. Cả ông và F. de Saussure – cha đẻ của nền 9 ngôn ngữ học hiện đại, cho rằng phong cách được hiểu là: “tinh thần ngôn ngữ dân tộc”, bao hàm tất cả các “sự kiện được biểu đạt với màu sắc biểu cảm”. Bên cạnh đó, có một số trường phái khác như trường phái ngôn ngữ học Praha mà tiêu biểu là nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson, chủ yếu nghiên cứu bình diện cấu trúc thuần túy của ngôn ngữ gắn với việc nghiên cứu bình diện mĩ học của nó.
Kết quả là Roman Jakobson đã có nhiều cống hiến không chỉ cho ngôn ngữ học mà còn cho văn học. Tuy nhiên, trường phái này về sau chỉ nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật trong khi thực tế phạm vi sử dụng ngôn ngữ rất rộng lớn. Các nhà ngôn ngữ học Nga Xô Viết thì theo trường phái Phong cách học chức năng nên ngôn ngữ được chia thành các phong cách khác nhau bao gồm: phong cách khẩu ngữ, phong cách khoa học học, phong cách nghệ thuật. Mặc dù phong cách học là một ngành khoa học có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời nhưng ở nước ta, từ những năm 60 của thế kỉ XX, các nhà Việt ngữ học mới bắt đầu quan tâm và có những nghiên cứu lí thuyết chính thức về phong cách học, chủ yếu chịu ảnh hưởng của trường phái Phong cách học chức năng Nga Xô Viết.
Năm 1964, Giáo trình Việt ngữ (tập III) – Tu từ học của Đinh Trọng Lạc được xuất bản đã đánh dấu sự xuất hiện của bộ môn phong cách học ở Việt Nam. Tác giả viết: “Phong cách là một hệ thống những biện pháp gợi cảm bao gồm tất cả mọi mặt của ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) kết hợp với nhau một cách hữu cơ làm cho một phong cách này khác biệt rõ rệt với phong cách khác”. Còn theo Cù Đình Tú trong cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, phong cách học “là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu các nguyên tắc và quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng và tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định”. 10 năm sau khi Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của Cù Đình Tú ra đời, cuốn Phong cách học tiếng Việt do Đinh Trọng Lạc chủ biên đã được xuất bản.
Phong cách học được định nghĩa lại như sau: “Phong cách học được hiểu là khoa học về các quy luật nói và viết có hiệu lực cao”. Tác giả còn nói rõ thêm: “Nói và viết có hiệu lực cao là sử dụng ngôn ngữ đạt được tính chính xác, tính đúng đắn và tính thẩm 10 mĩ trong mọi phạm vi hoạt động của giao tiếp xã hội. Nói cách khác, ngôn ngữ được sử dụng có hiệu quả cao có nghĩa là ngôn ngữ phải thực hiện được tất cả các chức năng xã hội của nó”. Theo Nguyễn Thái Hòa trong Dẫn luận Phong cách học, phong cách là: “những đặc trưng trong hoạt động lời nói được lặp đi lặp lại ở một người nào đó, ở một môi trường ngôn ngữ hay một cộng đồng, có khả năng khu biệt với những kiểu biểu đạt ngôn ngữ khác; nói cách khác, nó là tổng số của những dấu hiệu khu biệt của các sự kiện lời nói trong giao tiếp, phản ánh một cấu trúc bên trong và một cơ chế hoạt động ngôn ngữ”.“Ngôn ngữ là tiềm năng chung, là vật liệu xây dựng từ đó tất cả người sử dụng đều có thể lắp ghép lời nói cụ thể của mình.
Lời nói chứa đựng nội dung thông báo và những quy tắc mà mọi người đều hiểu được. Vậy thì, cách thức tạo thành và sự sắp xếp thống nhất ngôn ngữ / lời nói trong trường hợp giao tiếp cụ thể, đó chính là phong cách”. Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học do Nguyễn Như Ý nêu rõ: “phong cách là cách sử dụng (lựa chọn) những phương tiện ngôn ngữ trong các phát ngôn hữu quan tùy theo mục đích hình thái và tác dụng cụ thể của các phương tiện đó, cũng như tùy theo phương hướng cá nhân (như hướng cảm xúc, hướng thẩm mĩ,…) của người nói hay người viết. Nói chính xác hơn, phong cách là tổ chức toàn bộ các thủ pháp sử dụng và lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ theo nguyên tắc sắc thái tu từ”.
Phong cách cũng chính là “toàn bộ các thủ pháp sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho từng nhà văn, từng tác phẩm văn học hoặc từng thể loại”. Tóm lại, mỗi nhà Việt ngữ học có một định nghĩa riêng của mình về phong cách và phong cách học và ở các định nghĩa này có những nét chung như sau: Phong cách học là bộ môn của ngôn ngữ học.