Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Khái niệm về từ láy và tiêu chí nhận diện từ láy trong tiếng Việt Quan tâm nghiên cứu về các đặc điểm của từ láy tiếng Việt có thể kể đến những nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, Đái Xuân Ninh, Hà Quang Năng, Hoàng Cao Cương, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Phi Tuyết Hinh, Đào Thản, Nguyễn Thị Hai, Hữu Đạt, Nguyễn Đức Tồn… Như vậy, từ lâu, việc nghiên cứu từ láy đã được các nhà Việt ngữ học quan tâm. Tuy nhiên, tùy từng mức độ nghiên cứu mà mỗi công trình đều đề cập đến một vấn đề khác nhau. Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, đã xem xét từ láy trên phương diện cấu tạo, phân loại và đặc điểm ý nghĩa của từ láy.
Theo ông: “Láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao và nhóm thấp”. Từ láy được hình thành do phương thức láy tác động vào hình vị cơ sở, cho nên ý nghĩa của từ láy cũng hình thành ý nghĩa của hình vị cơ sở. Do đó, khi xem xét ý nghĩa của từ láy cần phải đối chiếu nghĩa của nó với hình vị cơ sở. Tuy ông đã phân tích khá kĩ về nhóm từ láy, nhưng nhóm từ láy phỏng thanh và nhóm từ láy âm cách điệu hóa chưa được bàn nhiều.
Trong công trình nghiên cứu khá công phu về hiện tượng “Từ láy trong tiếng Việt”, nhà nghiên cứu Hoàng Văn Hành coi từ láy là một hiện tượng ngôn ngữ phức tạp và đa dạng. Láy là một cơ chế hòa phối ngữ âm, cơ chế “đối” và “điệp”. Từ việc coi từ láy là một cơ chế, tác giả tiếp tục tìm hiểu về cấu tạo từ láy, các kiểu cơ cấu nghĩa của từ láy và sau đó rút ra hiệu quả nghệ thuật của từ láy. Ông đã tiến hành tổng kết những thành quả nghiên cứu về từ láy tiếng Việt từ trước đến nay.
Trên cơ sở đó, tác giả cũng đưa ra những mặt tồn tại và những mặt có thể kế thừa, phát huy và bổ sung, tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu những vấn đề còn chưa được giải đáp chung quanh hiện tượng láy trong tiếng Việt. Các đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của từ láy đều được tác giả trình bày một cách có hệ thống. Về mặt ý nghĩa, tác giả đã quan tâm phân tích kĩ cơ chế hình thành và giá trị biểu đạt của ba nhóm từ láy là: (LUAN.DUY 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com Luan van thac (LUAN.DUY nhóm từ láy phỏng thanh, nhóm từ láy sắc thái hóa và nhóm từ láy âm cách điệu. Còn các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong “Phong cách học tiếng Việt” lại nhìn nhận từ láy từ phương diện màu sắc biểu cảm mà giá trị của chúng dựa trên sự đối lập với những từ đồng nghĩa hoặc tương đồng về ý nghĩa.
Trong luận văn, chúng tôi thống nhất cách hiểu về khái niệm từ láy như sau: “Từ láy là từ đa âm tiết được cấu tạo theo phương thức láy, trong đó quan hệ giữa các âm tiết phải thể hiện được sự hòa phối và lặp lại về mặt ngữ âm, có giá trị biểu trưng và sắc thái hóa về ngữ nghĩa”. Trong tiếng Việt, việc phân biệt từ ghép và từ láy vốn rất phức tạp vì có sự chuyển hoá từ từ ghép sang từ láy âm. Đồng thời, lại không ít trường hợp phân tích rạch ròi giữa là ghép hay láy thì đành xếp chúng vào đơn vị trung gian. Tuy vậy, chúng tôi đưa ra một số tiêu chí để nhận diện từ láy như sau: - Tiêu chí thứ nhất: Láy âm là phương thức cấu tạo riêng của từ Tiếng Việt, Từ Hán Việt nói chung không có dạng láy âm (trừ trường hợp yếu tố gốc Hán đã được Việt hoá hoàn toàn).
Cho nên, nếu biết chắc chắn một từ hai âm tiết đó là từ Hán Việt thì xác định nó là từ ghép nghĩa chứ không phải là từ láy âm, dù bề ngoài có dạng láy âm ngẫu nhiên. Ví dụ: “cập kê, lãng đãng, tư lự, tử tế”…. - Tiêu chí thứ hai: Ranh giới để phân biệt một từ thuần Việt và một từ láy đôi thuần Việt là : Ở từ ghép hai âm tiết, cả hai tiếng đều có nghĩa. Ví dụ: “bèo bọt, che chắn, trai trẻ, máu mủ…”.
Còn từ láy đôi thì chỉ một tiếng gốc là có nghĩa, còn tiếng kia là tiếng láy lại, không có nghĩa hoặc mất nghĩa, có trường hợp cả hai tiếng đều vô nghĩa. Có thể phân biệt bằng cách tách riêng từng tiếng, nếu mỗi tiếng khi đứng độc lập đều có nghĩa thì đó là từ ghép song song (hoặc đẳng lập). Ví dụ: “đau đớn, khao khát, lãi lời, đau đớn, ngây ngất”……nếu chỉ một tiếng có nghĩa thì đó là láy âm. Ví dụ: “lạnh lùng, làm lụng, phập phồng, lảm nhảm”……chỉ có tiếng “lạnh, làm, phồng, nhảm” …là tiếng gốc có nghĩa.
- Tiêu chí thứ ba: Nếu đảo trật tự giữa các tiếng mà giữa các tiếng ấy đều có nghĩa thì đó là từ ghép nghĩa. Bởi vì láy âm nói chung – không đảo được).Ví dụ: “đoạ đày/ đày đoạ, gìn giữ/ giữ gìn, mờ mịt/ mịt mờ, ngơ ngẩn/ ngẩn ngơ, thẫn thờ/ thờ thẫn,…” đều có thể đảo trật tự các tiếng trong từ nên là các từ ghép nghĩa.DUY 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com Luan van thac (LUAN.DUY từ: “lạnh lùng, tần ngần, ngỡ ngàng, rõ ràng, thấm thoắt, thập thò…” là các từ láy âm. Cách này có mặt hạn chế là do quy luật ngữ âm hoặc do người dùng muốn tạo sự mới mẻ nên một số từ láy âm đích thực cũng đảo được trật tự. Ví dụ: “nhớ nhung/ nhung nhớ, da diết/ diết da, nhố nhăng/ nhăng nhố….” nên có thể gây ra nhầm lẫn.
Đặc điểm của từ láy trong tiếng Việt Xung quanh hiện tượng láy trong tiếng Việt còn tồn tại các ý kiến, quan niệm khác nhau, có nhiều điểm chưa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Ngay trong khái niệm về từ láy cũng đã tồn tại nhiều tên gọi khác nhau: từ phản điệp (Đỗ Hữu Châu, 1962); từ lắp láy (Hồ Lê, 1976); từ lấp láy Nguyễn Nguyên Trứ, 1970); từ láy âm (Nguyễn Tài Cẩn,1975; Nguyễn Văn Tu, 1976); từ láy (Đào Thản, 1970; Hoàng Văn Hành, 1979, 1985; Nguyễn Thiện Giáp, 1985; Đỗ Hữu Châu, 1986; Diệp Quang Ban, 1989). Tiêu biểu có một vài định nghĩa cho các tên gọi trên như sau: Nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Từ láy âm là loại từ ghép trong đó, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay, các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa, vần và âm cuối vần” [4, tr.
Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với những thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu, biến đổi theo hai nhóm, nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [7, tr. Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ngữ láy âm là những cụm từ được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có. Đặc trưng ngữ nghĩa nổi bật của ngữ láy âm là giá trị gợi tả (biểu cảm, mô phỏng, tượng hình, tượng thanh)” [23, tr. Nhà nghiên cứu Hoàng Văn Hành quan niệm: “Từ láy, nói chung, là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa (LUAN.DUY 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com Luan van thac (LUAN.DUY đối, vừa hài hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hoá” [32, tr.
Nhà nghiên cứu Hồ Lê viết: “Từ đơn lắp láy là một loại từ khá đặc biệt, xét về mặt cấu tạo. Nó có tính chất của từ đơn nhưng không phải hoàn toàn là từ đơn; nó được tạo ra theo phương thức lắp láy. Nhưng trong không ít trường hợp, quan hệ lắp láy về mặt ngữ nghĩa lại không được hiện ra một cách rõ ràng” [49, tr. Tác giả Nguyễn Nguyên Trứ lại cho rằng: “Từ láy đôi trong tiếng Việt hiện đại là một loại từ đơn trong đó có sự láy lại hoặc là toàn bộ âm tiết, hoặc là phần phụ âm đầu hay phần vần trong kết cấu âm tiết của hai yếu tố tạo thành.
Giữa hai âm tiết thường có mối quan hệ thanh điệu theo những quy luật nhất định” [76, tr. Như vậy, về cơ bản các nhà nghiên cứu, có hai cách nhìn khác nhau về hiện tượng láy. * Cách nhìn thứ nhất coi láy là ghép: Lê Văn Lý xem từ láy là một trong hai kiểu từ ghép trong tiếng Việt (1972). Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê đã gộp từ láy và từ ghép vào một khái niệm chung, bao quát hơn là từ kép (1963).
Nguyễn Văn Tu gọi là từ ghép láy âm, coi đó là “Những từ ghép vì thực chất chúng được cấu tạo ra bởi một từ tố với bản thân nó không bị biến âm hoặc bị biến âm” [78, tr. Nguyễn Tài Cẩn có quan niệm rộng về từ láy, ông cho rằng “Từ láy là loại từ ghép, trong đó theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay, các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: Mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần và âm cuối vần). Sở dĩ trong định nghĩa tác giả phải nói “trong con mắt nhìn của người Việt hiện nay” là vì có nhiều tổ hợp vốn trước đây thuộc vào kiểu ghép nghĩa, nhưng hiện nay đứng trên diện đồng đại mà xét thì chuyển sang thành kiểu láy âm [4, tr.
Đây là một quan niệm rộng, nhưng xét theo quan niệm này thì các loại từ sau cũng bị loại ra khỏi phạm vi của lớp từ này.