Đặc Điểm Từ Láy Trong Thơ Nguyễn Duy

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn duy, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2021

135
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Từ Láy Trong Thơ Nguyễn Duy Góc Ngôn Ngữ

Từ láy là một bộ phận quan trọng trong vốn từ vựng tiếng Việt, thể hiện rõ nét đặc trưng ngữ âm và khả năng biểu đạt tinh tế. Trong thơ ca, đặc biệt là thơ hiện đại, từ láy được sử dụng để tạo nên những hiệu ứng thẩm mỹ độc đáo, gợi hình, gợi cảm, góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ thơ. Nghiên cứu từ láy trong thơ một tác giả cụ thể như Nguyễn Duy không chỉ giúp hiểu sâu sắc hơn về phong cách thơ của tác giả, mà còn góp phần vào việc nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng trong văn học Việt Nam. Nguyễn Duy, với giọng thơ chân thật, giản dị nhưng giàu cảm xúc, đã sử dụng từ láy một cách sáng tạo, mang đến những vần thơ độc đáo, gần gũi với đời sống.

1.1. Khái Niệm Từ Láy và Vai Trò Trong Thơ Ca Việt Nam

Từ láy là những từ được cấu tạo bằng cách lặp lại toàn bộ hoặc một phần âm tiết, tạo nên sự hòa phối về âm thanh và gia tăng sắc thái biểu cảm. Trong thơ ca, từ láy không chỉ có tác dụng gợi hình, gợi cảm, mà còn tạo nhịp điệu, âm hưởng, làm tăng tính nhạc cho câu thơ. Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng của từ láy trong việc biểu đạt tư tưởng, tình cảm của người Việt. Theo Đỗ Hữu Châu, từ láy thể hiện rõ nhất hình thức ngữ âm tiếng Việt trong việc biểu lộ tư tưởng tình cảm.

1.2. Vì Sao Nên Nghiên Cứu Từ Láy trong Thơ Nguyễn Duy

Thơ Nguyễn Duy nổi bật với sự giản dị, chân chất, gần gũi với đời sống thường ngày. Nguyễn Duy sử dụng từ láy một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn, không gò bó, tạo nên những hình ảnh thơ sinh động, giàu sức biểu cảm. Việc nghiên cứu từ láy trong thơ Nguyễn Duy giúp khám phá những nét độc đáo trong phong cách ngôn ngữ của ông, đồng thời hiểu rõ hơn về cách ông sử dụng ngôn ngữ để truyền tải những thông điệp sâu sắc về cuộc sống, con người và xã hội. Thơ ông vừa chân thật, thẳng thắn mà cũng hết sức đôn hậu và tình tứ; vừa gai góc mà cũng hết sức dung dị, đằm thắm.

II. Thách Thức Khi Phân Tích Từ Láy Trong Thơ Ngôn Ngữ Học

Việc phân tích từ láy trong thơ nói chung và thơ Nguyễn Duy nói riêng đặt ra nhiều thách thức về mặt ngôn ngữ học. Ranh giới giữa từ láytừ ghép đôi khi rất mong manh, đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức sâu rộng về tiếng Việt và khả năng phân tích ngữ nghĩa tinh tế. Bên cạnh đó, việc xác định giá trị biểu đạt của từ láy trong một văn cảnh cụ thể cũng không hề đơn giản, bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ngữ cảnh, cảm xúc của tác giảkinh nghiệm của người đọc. Hơn nữa, sự sáng tạo trong việc sử dụng từ láy của mỗi nhà thơ cũng đòi hỏi người nghiên cứu phải có cái nhìn linh hoạt, tránh áp đặt những khuôn mẫu cứng nhắc.

2.1. Ranh Giới Giữa Từ Láy và Từ Ghép Bài Toán Ngôn Ngữ

Một trong những khó khăn lớn nhất khi nghiên cứu từ láy là phân biệt chúng với từ ghép. Trong nhiều trường hợp, hình thức cấu tạo của từ láytừ ghép rất giống nhau, khiến cho việc xác định bản chất của chúng trở nên phức tạp. Ví dụ, những từ như "bèo bọt", "che chắn", "trai trẻ", "máu mủ…" có phải là từ láy hay từ ghép? Để giải quyết vấn đề này, cần phải dựa vào nhiều tiêu chí như nguồn gốc, ý nghĩa của các thành tố và cách sử dụng của chúng trong văn cảnh.

2.2. Chủ Quan Trong Đánh Giá Giá Trị Biểu Đạt Cần Khách Quan

Việc đánh giá giá trị biểu đạt của từ láy trong thơ thường mang tính chủ quan, phụ thuộc vào cảm nhận của người đọc. Tuy nhiên, để có một đánh giá khách quan, cần phải dựa vào những cứ liệu ngôn ngữ học cụ thể, phân tích ngữ cảnh một cách kỹ lưỡng và đối chiếu với những nghiên cứu trước đó. Ngoài ra, cũng cần phải chú ý đến phong cách của tác giảmục đích của việc sử dụng từ láy trong từng trường hợp cụ thể.

III. Phương Pháp Phân Loại Từ Láy Trong Thơ Nghiên Cứu Ngôn Ngữ

Để nghiên cứu một cách hệ thống và hiệu quả từ láy trong thơ, cần phải có một phương pháp phân loại rõ ràng, dựa trên những tiêu chí cụ thể. Có nhiều cách phân loại từ láy khác nhau, tùy thuộc vào mục đích và phạm vi nghiên cứu. Một cách phân loại phổ biến là dựa vào cấu trúc ngữ âm, chia từ láy thành láy toàn bộ, láy bộ phận (láy âm đầu, láy vần, láy thanh điệu). Ngoài ra, cũng có thể phân loại từ láy theo ý nghĩa (láy gợi hình, láy gợi cảm, láy tượng thanh, láy tượng hình) hoặc theo chức năng ngữ pháp (láy danh từ, láy động từ, láy tính từ).

3.1. Phân Loại Theo Cấu Trúc Ngữ Âm Láy Toàn Bộ Bộ Phận

Cách phân loại từ láy theo cấu trúc ngữ âm là một trong những cách phân loại cơ bản và phổ biến nhất. Từ láy toàn bộ là những từ mà tất cả các âm tiết đều được lặp lại, ví dụ: xanh xanh, đỏ đỏ. Từ láy bộ phận là những từ mà chỉ một phần âm tiết được lặp lại, ví dụ: lí lắc (láy âm đầu), chênh vênh (láy vần), khẽ khàng (láy thanh điệu). Phân loại theo cách này giúp nhận diện rõ hơn đặc điểm cấu tạo của từ láy.

3.2. Phân Loại Theo Ý Nghĩa Gợi Hình Gợi Cảm Tượng Thanh

Một cách phân loại khác là dựa vào ý nghĩa của từ láy. Từ láy gợi hình là những từ có tác dụng miêu tả hình dáng, kích thước, màu sắc của sự vật, ví dụ: tròn trịa, mập mạp, xanh xao. Từ láy gợi cảm là những từ có tác dụng biểu đạt cảm xúc, thái độ của người nói, ví dụ: buồn bã, vui vẻ, hờn dỗi. Từ láy tượng thanh là những từ mô phỏng âm thanh của sự vật, hiện tượng, ví dụ: ào ào, róc rách, ầm ầm. Cách phân loại này giúp hiểu rõ hơn về giá trị biểu đạt của từ láy.

IV. Đặc Điểm Cấu Tạo Từ Láy Trong Thơ Nguyễn Duy Phân Tích

Thơ Nguyễn Duy thể hiện rõ đặc điểm cấu tạo từ láy một cách đa dạng. Bên cạnh những từ láy thông thường, Nguyễn Duy còn sử dụng những từ láy sáng tạo, độc đáo, mang đậm dấu ấn cá nhân. Ông không gò bó mình trong những khuôn mẫu cấu tạo có sẵn, mà linh hoạt biến đổi, tạo ra những từ láy mới lạ, góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ thơ của mình. Việc phân tích cấu tạo của từ láy trong thơ Nguyễn Duy giúp hiểu rõ hơn về khả năng sáng tạo ngôn ngữ của ông.

4.1. Tần Suất và Kiểu Từ Láy Thường Gặp Trong Thơ Nguyễn Duy

Nghiên cứu cho thấy, Nguyễn Duy sử dụng nhiều kiểu từ láy khác nhau, nhưng có một số kiểu thường gặp hơn cả. Đó là những từ láy có cấu trúc đơn giản, dễ hiểu, gần gũi với ngôn ngữ đời thường. Tuy nhiên, ông cũng không ngại sử dụng những từ láy phức tạp, ít gặp, tạo nên những hiệu ứng bất ngờ, thú vị. Cần thống kê cụ thể tần suất sử dụng từng loại từ láy để có cái nhìn chính xác hơn.

4.2. Từ Láy Sáng Tạo Dấu Ấn Cá Nhân Trong Ngôn Ngữ Thơ

Nguyễn Duy không chỉ sử dụng những từ láy có sẵn trong tiếng Việt, mà còn sáng tạo ra những từ láy mới, mang đậm dấu ấn cá nhân. Những từ láy này thường có cấu trúc độc đáo, ý nghĩa mới lạ, góp phần tạo nên phong cách ngôn ngữ riêng biệt của Nguyễn Duy. Ví dụ về những từ láy sáng tạo này cần được phân tích cụ thể để thấy rõ giá trị của chúng.

V. Giá Trị Biểu Đạt Của Từ Láy Trong Thơ Nguyễn Duy Biểu Cảm

Giá trị biểu đạt của từ láy trong thơ Nguyễn Duy vô cùng phong phú và đa dạng. Từ láy không chỉ có tác dụng gợi hình, gợi cảm, mà còn góp phần thể hiện những tư tưởng, tình cảm sâu sắc của tác giả về cuộc sống, con người và xã hội. Việc phân tích giá trị biểu đạt của từ láy trong thơ Nguyễn Duy giúp hiểu sâu sắc hơn về nội dungý nghĩa của các tác phẩm. Các tác phẩm của ông phần lớn đều sử dụng từ láy biểu cảm rất hiệu quả.

5.1. Từ Láy Miêu Tả Thiên Nhiên Sinh Động Chân Thực Gần Gũi

Nguyễn Duy sử dụng từ láy một cách tài tình để miêu tả thiên nhiên, tạo nên những bức tranh sinh động, chân thực và gần gũi. Những từ láy như xanh xanh, trắng trắng, lấp lánh, róc rách… giúp người đọc hình dung rõ nét vẻ đẹp của thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy. Các ví dụ cụ thể từ các bài thơ sẽ chứng minh điều này.

5.2. Từ Láy Miêu Tả Con Người Giàu Cảm Xúc Sâu Sắc Nhân Văn

Từ láy được Nguyễn Duy sử dụng để miêu tả con người với những cung bậc cảm xúc khác nhau, từ vui mừng, hạnh phúc đến buồn bã, đau khổ. Những từ láy như mênh mang, ngậm ngùi, rưng rưng, thẫn thờ… thể hiện sâu sắc những trạng thái tâm lý phức tạp của con người trong cuộc sống. Các ví dụ minh họa cụ thể sẽ làm rõ điều này. Từ láy với việc miêu tả con người.

VI. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng Từ Láy Trong Thơ

Nghiên cứu từ láy trong thơ Nguyễn Duy cho thấy sự sáng tạo và tài năng sử dụng ngôn ngữ của ông. Từ láy không chỉ là một phương tiện biểu đạt ngôn ngữ đơn thuần, mà còn là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cách thơ độc đáo của Nguyễn Duy. Nghiên cứu này mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới về ngôn ngữ thơ của các nhà thơ hiện đại Việt Nam, cũng như về giá trị của từ láy trong văn học Việt Nam. Nghiên cứu về từ láy trong thơ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự phong phú và tinh tế của tiếng Việt.

6.1. Tổng Kết Từ Láy và Phong Cách Thơ Nguyễn Duy

Tóm lại, từ láy đóng vai trò quan trọng trong việc định hình phong cách thơ Nguyễn Duy. Sự sử dụng từ láy một cách sáng tạo, linh hoạt và tinh tế đã góp phần tạo nên những vần thơ giản dị, chân thật nhưng giàu cảm xúc và ý nghĩa. Từ láy không chỉ là một công cụ ngôn ngữ, mà còn là một phần không thể thiếu trong thế giới thơ ca của Nguyễn Duy.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo So Sánh Với Các Nhà Thơ Khác

Để có cái nhìn toàn diện hơn về từ láy trong thơ ca Việt Nam, cần tiếp tục nghiên cứu và so sánh cách sử dụng từ láy của Nguyễn Duy với các nhà thơ khác. Điều này sẽ giúp làm nổi bật những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó hiểu rõ hơn về vị trívai trò của Nguyễn Duy trong nền văn học Việt Nam hiện đại. So sánh với Xuân Diệu, Tố Hữu, Nguyễn Bính,...sẽ là một hướng đi tốt.

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ đặc điểm từ láy trong thơ nguyễn duy

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Khái niệm về từ láy và tiêu chí nhận diện từ láy trong tiếng Việt Quan tâm nghiên cứu về các đặc điểm của từ láy tiếng Việt có thể kể đến những nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành, Đái Xuân Ninh, Hà Quang Năng, Hoàng Cao Cương, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Phi Tuyết Hinh, Đào Thản, Nguyễn Thị Hai, Hữu Đạt, Nguyễn Đức Tồn… Như vậy, từ lâu, việc nghiên cứu từ láy đã được các nhà Việt ngữ học quan tâm. Tuy nhiên, tùy từng mức độ nghiên cứu mà mỗi công trình đều đề cập đến một vấn đề khác nhau. Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, đã xem xét từ láy trên phương diện cấu tạo, phân loại và đặc điểm ý nghĩa của từ láy.

Theo ông: “Láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao và nhóm thấp”. Từ láy được hình thành do phương thức láy tác động vào hình vị cơ sở, cho nên ý nghĩa của từ láy cũng hình thành ý nghĩa của hình vị cơ sở. Do đó, khi xem xét ý nghĩa của từ láy cần phải đối chiếu nghĩa của nó với hình vị cơ sở. Tuy ông đã phân tích khá kĩ về nhóm từ láy, nhưng nhóm từ láy phỏng thanh và nhóm từ láy âm cách điệu hóa chưa được bàn nhiều.

Trong công trình nghiên cứu khá công phu về hiện tượng “Từ láy trong tiếng Việt”, nhà nghiên cứu Hoàng Văn Hành coi từ láy là một hiện tượng ngôn ngữ phức tạp và đa dạng. Láy là một cơ chế hòa phối ngữ âm, cơ chế “đối” và “điệp”. Từ việc coi từ láy là một cơ chế, tác giả tiếp tục tìm hiểu về cấu tạo từ láy, các kiểu cơ cấu nghĩa của từ láy và sau đó rút ra hiệu quả nghệ thuật của từ láy. Ông đã tiến hành tổng kết những thành quả nghiên cứu về từ láy tiếng Việt từ trước đến nay.

Trên cơ sở đó, tác giả cũng đưa ra những mặt tồn tại và những mặt có thể kế thừa, phát huy và bổ sung, tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu những vấn đề còn chưa được giải đáp chung quanh hiện tượng láy trong tiếng Việt. Các đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của từ láy đều được tác giả trình bày một cách có hệ thống. Về mặt ý nghĩa, tác giả đã quan tâm phân tích kĩ cơ chế hình thành và giá trị biểu đạt của ba nhóm từ láy là: (LUAN.DUY 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com Luan van thac (LUAN.DUY nhóm từ láy phỏng thanh, nhóm từ láy sắc thái hóa và nhóm từ láy âm cách điệu. Còn các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa trong “Phong cách học tiếng Việt” lại nhìn nhận từ láy từ phương diện màu sắc biểu cảm mà giá trị của chúng dựa trên sự đối lập với những từ đồng nghĩa hoặc tương đồng về ý nghĩa.

Trong luận văn, chúng tôi thống nhất cách hiểu về khái niệm từ láy như sau: “Từ láy là từ đa âm tiết được cấu tạo theo phương thức láy, trong đó quan hệ giữa các âm tiết phải thể hiện được sự hòa phối và lặp lại về mặt ngữ âm, có giá trị biểu trưng và sắc thái hóa về ngữ nghĩa”. Trong tiếng Việt, việc phân biệt từ ghép và từ láy vốn rất phức tạp vì có sự chuyển hoá từ từ ghép sang từ láy âm. Đồng thời, lại không ít trường hợp phân tích rạch ròi giữa là ghép hay láy thì đành xếp chúng vào đơn vị trung gian. Tuy vậy, chúng tôi đưa ra một số tiêu chí để nhận diện từ láy như sau: - Tiêu chí thứ nhất: Láy âm là phương thức cấu tạo riêng của từ Tiếng Việt, Từ Hán Việt nói chung không có dạng láy âm (trừ trường hợp yếu tố gốc Hán đã được Việt hoá hoàn toàn).

Cho nên, nếu biết chắc chắn một từ hai âm tiết đó là từ Hán Việt thì xác định nó là từ ghép nghĩa chứ không phải là từ láy âm, dù bề ngoài có dạng láy âm ngẫu nhiên. Ví dụ: “cập kê, lãng đãng, tư lự, tử tế”…. - Tiêu chí thứ hai: Ranh giới để phân biệt một từ thuần Việt và một từ láy đôi thuần Việt là : Ở từ ghép hai âm tiết, cả hai tiếng đều có nghĩa. Ví dụ: “bèo bọt, che chắn, trai trẻ, máu mủ…”.

Còn từ láy đôi thì chỉ một tiếng gốc là có nghĩa, còn tiếng kia là tiếng láy lại, không có nghĩa hoặc mất nghĩa, có trường hợp cả hai tiếng đều vô nghĩa. Có thể phân biệt bằng cách tách riêng từng tiếng, nếu mỗi tiếng khi đứng độc lập đều có nghĩa thì đó là từ ghép song song (hoặc đẳng lập). Ví dụ: “đau đớn, khao khát, lãi lời, đau đớn, ngây ngất”……nếu chỉ một tiếng có nghĩa thì đó là láy âm. Ví dụ: “lạnh lùng, làm lụng, phập phồng, lảm nhảm”……chỉ có tiếng “lạnh, làm, phồng, nhảm” …là tiếng gốc có nghĩa.

- Tiêu chí thứ ba: Nếu đảo trật tự giữa các tiếng mà giữa các tiếng ấy đều có nghĩa thì đó là từ ghép nghĩa. Bởi vì láy âm nói chung – không đảo được).Ví dụ: “đoạ đày/ đày đoạ, gìn giữ/ giữ gìn, mờ mịt/ mịt mờ, ngơ ngẩn/ ngẩn ngơ, thẫn thờ/ thờ thẫn,…” đều có thể đảo trật tự các tiếng trong từ nên là các từ ghép nghĩa.DUY 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com Luan van thac (LUAN.DUY từ: “lạnh lùng, tần ngần, ngỡ ngàng, rõ ràng, thấm thoắt, thập thò…” là các từ láy âm. Cách này có mặt hạn chế là do quy luật ngữ âm hoặc do người dùng muốn tạo sự mới mẻ nên một số từ láy âm đích thực cũng đảo được trật tự. Ví dụ: “nhớ nhung/ nhung nhớ, da diết/ diết da, nhố nhăng/ nhăng nhố….” nên có thể gây ra nhầm lẫn.

Đặc điểm của từ láy trong tiếng Việt Xung quanh hiện tượng láy trong tiếng Việt còn tồn tại các ý kiến, quan niệm khác nhau, có nhiều điểm chưa thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Ngay trong khái niệm về từ láy cũng đã tồn tại nhiều tên gọi khác nhau: từ phản điệp (Đỗ Hữu Châu, 1962); từ lắp láy (Hồ Lê, 1976); từ lấp láy Nguyễn Nguyên Trứ, 1970); từ láy âm (Nguyễn Tài Cẩn,1975; Nguyễn Văn Tu, 1976); từ láy (Đào Thản, 1970; Hoàng Văn Hành, 1979, 1985; Nguyễn Thiện Giáp, 1985; Đỗ Hữu Châu, 1986; Diệp Quang Ban, 1989). Tiêu biểu có một vài định nghĩa cho các tên gọi trên như sau: Nhà nghiên cứu Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Từ láy âm là loại từ ghép trong đó, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay, các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa, vần và âm cuối vần” [4, tr.

Nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với những thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu, biến đổi theo hai nhóm, nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [7, tr. Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ngữ láy âm là những cụm từ được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có. Đặc trưng ngữ nghĩa nổi bật của ngữ láy âm là giá trị gợi tả (biểu cảm, mô phỏng, tượng hình, tượng thanh)” [23, tr. Nhà nghiên cứu Hoàng Văn Hành quan niệm: “Từ láy, nói chung, là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa (LUAN.DUY 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com Luan van thac (LUAN.DUY đối, vừa hài hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng hoá” [32, tr.

Nhà nghiên cứu Hồ Lê viết: “Từ đơn lắp láy là một loại từ khá đặc biệt, xét về mặt cấu tạo. Nó có tính chất của từ đơn nhưng không phải hoàn toàn là từ đơn; nó được tạo ra theo phương thức lắp láy. Nhưng trong không ít trường hợp, quan hệ lắp láy về mặt ngữ nghĩa lại không được hiện ra một cách rõ ràng” [49, tr. Tác giả Nguyễn Nguyên Trứ lại cho rằng: “Từ láy đôi trong tiếng Việt hiện đại là một loại từ đơn trong đó có sự láy lại hoặc là toàn bộ âm tiết, hoặc là phần phụ âm đầu hay phần vần trong kết cấu âm tiết của hai yếu tố tạo thành.

Giữa hai âm tiết thường có mối quan hệ thanh điệu theo những quy luật nhất định” [76, tr. Như vậy, về cơ bản các nhà nghiên cứu, có hai cách nhìn khác nhau về hiện tượng láy. * Cách nhìn thứ nhất coi láy là ghép: Lê Văn Lý xem từ láy là một trong hai kiểu từ ghép trong tiếng Việt (1972). Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê đã gộp từ láy và từ ghép vào một khái niệm chung, bao quát hơn là từ kép (1963).

Nguyễn Văn Tu gọi là từ ghép láy âm, coi đó là “Những từ ghép vì thực chất chúng được cấu tạo ra bởi một từ tố với bản thân nó không bị biến âm hoặc bị biến âm” [78, tr. Nguyễn Tài Cẩn có quan niệm rộng về từ láy, ông cho rằng “Từ láy là loại từ ghép, trong đó theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay, các thành tố trực tiếp được kết hợp lại với nhau chủ yếu là theo quan hệ ngữ âm. Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: Mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần và âm cuối vần). Sở dĩ trong định nghĩa tác giả phải nói “trong con mắt nhìn của người Việt hiện nay” là vì có nhiều tổ hợp vốn trước đây thuộc vào kiểu ghép nghĩa, nhưng hiện nay đứng trên diện đồng đại mà xét thì chuyển sang thành kiểu láy âm [4, tr.

Đây là một quan niệm rộng, nhưng xét theo quan niệm này thì các loại từ sau cũng bị loại ra khỏi phạm vi của lớp từ này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Đặc Điểm Từ Láy Trong Thơ Nguyễn Duy: Nghiên Cứu Ngôn Ngữ Học cung cấp một cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng từ láy trong thơ của nhà thơ Nguyễn Duy. Bài viết phân tích các đặc điểm ngôn ngữ học của từ láy, từ đó làm nổi bật vai trò của chúng trong việc tạo nên âm điệu và cảm xúc cho tác phẩm. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ về từ láy không chỉ giúp nâng cao khả năng cảm thụ thơ mà còn mở rộng kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

Nếu bạn muốn khám phá thêm về chủ đề này, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp văn học từ láy trong thơ hồ xuân hương sẽ cung cấp những góc nhìn khác về việc sử dụng từ láy trong thơ ca, giúp bạn có thêm thông tin và hiểu biết sâu sắc hơn về ngôn ngữ thơ. Hãy cùng tìm hiểu để mở rộng kiến thức của mình!