phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo,nội dung chính của luận văn bao gồm ba chương CHƢƠNG I Tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong trong bộ phận tiểu thuyết Việt Nam về đề tài nông thôn sau đổi mới 1986. Nhà văn Trịnh thanh phong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 1.1Tiểu sử nhà văn 1. Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Trịnh Thanh Phong: 1. Tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong trong bộ phận tiểu thuyết Việt Nam về đề tài nông thôn sau đổi mới 1986 1.Diện mạo chung 1.Những điểm tương đồng 1.Những điểm khác biệt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 CHƢƠNG II Bức tranh hiện thực và con ngƣời nông thôn trong tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong 2.
Quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con ngƣời trong tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong .Con người cá nhân trong cảm hứng bi kịch và cảm thương 2.Con người lí tưởng trong cảm hứng ngợi ca 2. Con người cá nhân trong cảm hứng tâm linh 2. Bức tranh hiện thực nông thôn Việt Nam với hai gam màu sáng - tối 2. Hình tƣợng ngƣời nông dân Việt Nam trong cảm hứng thế sự - đời tƣ 2.Nhân vật người nông dân xuất hiện với tâm thế con người tự ý thức 2.Sự khám phá con người đời tư từ cái nhìn đa chiều và nhân bản.
CHƢƠNG III Một số phƣơng diện trong nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong 3.Cốt truyện đơn tuyến 3.Nghệ thuật xây dựng nhân vật 3.xây dựng nhân vật qua ngoại hình và trang phục 3.Xây dựng nhân vật qua hành động và tâm lí 3.Xây dựng nhân vật qua miêu tả hành trình số phận 3.Ngôn ngữ và giọng điệu nhân vật 3.Ngôn ngữ đối thoại mang tính khẩu ngữ của người nông dân 3.Ngôn ngữ độc thoại 3. Các kiểu giọng điệu trần thuật 3.Giọng điệu cảm thương 3.Giọng điệu trào phúng 3.Giọng điệu ngợi ca Phần kết luận Phần thƣ mục tài liệu tham khảo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I TIỂU THUYẾT TRỊNH THANH PHONG TRONG BỘ PHẬN TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VIẾT VỀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN SAU ĐỔI MỚI 1986. Nhà văn Trịnh Thanh Phong - Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 1. Tiểu sử nhà văn Nhà văn Trịnh Thanh Phong còn có bút danh tác nghiệp là Hải Thanh.
Ông sinh năm 1950, quê gốc vốn ở làng Phủ Chính - Vĩnh Tường - Lập Thạch - Vĩnh Phúc nhưng được sinh ra và lớn lên ở làng Thông xã Lâm Xuyên huyện Sơn Dương - Tuyên Quang. Chính vùng đất hài hòa giữa rừng núi với suối sông (Lâm Xuyên) này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Tuổi thơ Trịnh Thanh Phong lầm lũi với rừng và lấm láp với sông ngòi, đồng ruộng quê hương. Hoàn cảnh sống đó đã giúp nhà văn sớm tiếp cận và gắn bó với người nông dân, thấu hiểu những niềm vui nỗi buồn, cảm thông sâu sắc với những nhọc nhằn, lam lũ của họ.
Có lẽ chính vì vậy mà trong mỗi trang văn, Trịnh Thanh Phong vừa như muốn bày tỏ tấm lòng tri ân, tri kỷ với người nông dân chân chỉ hạt bột quê nhà vừa như muốn giải tỏa cho những tâm sự của chính mình vậy. Chẳng thế mà ngay từ khi bắt tay vào nghề cầm bút, Trịnh Thanh phong đã viết: Mẹ sinh con trên quãng sông này Mùa nước lũ phù sa ngàu đỏ Con đâu biết tháng ngày gian khổ Mẹ hát ru cái vạc cái cò. Tuổi thơ con đằm trong cát đỏ Những mùa màng mẹ lặn lội lo toan Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 Bãi ngô ngập dưới mùa mưa lũ Trận đói bò ngang lưng núi Châm Những vần thơ dung dị ấy đã đánh dấu sự nghiệp sáng tác của Trịnh Thanh Phong suốt những tháng ngày tuổi trẻ, bởi lẽ ngay sau đó ông không có tác phẩm nào được công bố tiếp. Đang học phổ thông, chàng trai 18 tuổi hăm hở lên đường nhập ngũ.
Khi đó Trịnh Thanh Phong được biên chế vào sư đoàn 304 rồi chuyển sang trung đoàn 335 chiến đấu tại chiến trường Lào. Đây có lẽ chính là môi trường nuôi dưỡng những tâm tư, suy nghĩ, quan sát của nhà văn, là những tháng ngày ông thai nghén đứa con tinh thần tiếp theo của mình. Trong điều kiện chiến trường đầy khắc nghiệt, đồng đội hầu hết đều là những người xuất thân từ nông thôn hoặc miền núi, những con người lam lũ, Trịnh Thanh Phong luôn mở rộng tấm lòng và tầm quan sát để sau này những trải nghiệm đó trở thành vốn quý và được thể hiện sâu sắc trong những trang viết của ông. Là người rất nhạy cảm, hàng ngày phải chứng kiến nhiều những mất mát, hy sinh của đồng đội, Trịnh Thanh Phong càng thêm day dứt bởi ông hiểu hơn ai hết những con người ra đi từ đồng đất, bước vào kháng chiến từ những rãnh cày trên mọi miền quê.
Điều đó đã thôi thúc ông phải cầm bút, nhưng lần này ông không làm thơ nữa mà bắt đầu viết những trang ghi chép trong chiến trận, sau đó là bút ký, truyện ngắn… Tiểu thuyết Đất cánh đồng Chum cũng được ra đời trong giai đoạn này (1972). Viết xong, nhà văn - người lính chỉ lặng lẽ đưa cho đồng đội đọc rồi lặng lẽ cất vào đáy ba lô, một phần vì ở chiến trường không có điều kiện để gửi đăng, mặt khác ông cũng nghĩ rất đơn giản và mộc mạc: “văn mình là của mình thôi…gửi để làm gì”. Sau khi hiệp định Pari được ký kết (1973), Trịnh Thanh Phong được điều về học tiếp chương trình cấp 3 tại trường Văn hóa quân đội (Lạng Sơn), sau đó về học tại Học viện Hậu Cần. Cuối năm 1976, một phần vì sức khỏe Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 yếu, một phần do cái “nghiệp chướng giời đày” (như lời nhà văn thường nói), ông xin giải ngũ và về công tác tại Sở văn hóa thông tin Hà Tuyên.
Thời gian này ông thường lui về làng Thông, gặp lại những người đồng đội cùng sống chết trong chiến tranh giờ phải đương đầu với những khó khăn, thiếu túng. Nhiều người muốn bứt phá nhưng cơ chế hợp tác xã lại ngột ngạt khiến họ cũng phải lẫn vào sự đói nghèo của dân chúng. Từ đó, thực tại gần như trở thành một nỗi ám ảnh,Trịnh Thanh Phong suy nghĩ rất nhiều về số phận con người gắn liền với những vùng quê nghèo đói. Việc ông trở đi trở lại với làng quê để sống với những người nông dân chân chất có bận đã suýt khiến nhà văn phải điêu đứng.
Thật may trời đã không phụ lòng người, kết quả của những chuyến đi về vùng quê đó chính là những sáng tác khá thành công về đề tài nông thôn và người lính của Trịnh Thanh Phong sau này. Sự nghiệp sáng tác Nhà văn Trịnh Thanh phong có những tác phẩm in trên báo trung ương và địa phương từ những năm 1980. Những tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến là Bãi cuối sông - Tập truyện ngắn đầu tay xuất bản năm 1990, Gặp lại (1997), Đôi mắt vầng trăng –thơ (1999), Lời ru ban mai (2000), Bao giờ chim vành khuyên bay về (2001), Bức tường xanh (2002), Ma làng (2002), Dưới chân núi Pắc Quan (2003), Vết thương thời bình (2006), Đất cánh đồng Chum (2007), Đồng làng đom đóm (2009). Từ khi còn ở chiến trường đầy lửa đạn cho đến hôm nay ở cái tuổi gần 60, Trịnh Thanh Phong vẫn lặng lẽ viết.
Với trên 10 đầu sách đã xuất bản, tác phẩm của Trịnh Thanh Phong chủ yếu bám chắc vào đề tài nông thôn và người lính. Nhận xét về ông, tại hội nghị cấp Chi hội Nhà văn Sông Chảy năm 2010, nhà thơ Hữu Thỉnh nói: Một nhà văn sống ở miền núi Tuyên Quang mà làm nên được một “Ma làng”gây xôn xao dư luận trong nước và thế giới, rõ ràng đây không chỉ là thành công riêng của Trịnh Thanh Phong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 mà còn là đóng góp của văn học nước nhà cho công cuộc đổi mới. Điều đó cũng cho chúng ta thấy rằng: nhà văn chỉ có khoảng cách về chỗ ở chứ không có khoảng cách trong sáng tạo. Trong quá trình tìm hiểu những sáng tác của Trịnh Thanh Phong, chúng tôi có tìm gặp và trò chuyện cùng tác giả.
Trong câu chuyện vui vẻ ông nói: Như các bạn biết, mỗi nhà văn đều có vùng đất của mình. Nhưng theo tôi khi lựa chọn, điều quan trọng là nhà văn phải biết vùng đất ấy có hợp với cái “tạng” của mình không. Khi thấy hợp rồi thì mình còn phải có biện pháp thích hợp để tiếp cận nó. Bản thân tôi khi chắc chắn vùng đất nông thôn với những người lính bước ra từ cuộc chiến hợp với mình, tôi bắt đầu bỏ công khai thác.
Nói vậy bạn sẽ hỏi: bằng cách nào? “Đơn giản thôi: sống và gắn bó với vùng đất đó, gắn bó với họ đồng thời phải hiểu họ… Hiểu được rồi phải biết biến những đều đó thành máu thịt trong cơ thể mình. Trên cơ sở đó vận hành những nguồn lực đã có trong mình như vốn văn hóa, năng khiếu trời cho… để khơi dòng chảy cho tác phẩm văn học.Quá trình sáng tác, nhất là khi viết Ma làng, Đất cánh đồng Chum. tôi đã làm như thế…” [16 ] Quá trình nghiên cứu tác phẩm của Trịnh Thanh Phong sẽ cho ta thấy ý nghĩa của những lời tự bạch trên. Tiểu thuyết Trịnh Thanh Phong trong bộ phận tiểu thuyết Việt Nam về đề tài nông thôn sau đổi mới 1986 1.
Diện mạo chung Có thể nói, năm 1986 là dấu mốc quan trọng trong đời sống xã hội nói chung và đời sống văn học nghệ thuật Việt Nam nói riêng. Thời điểm này chứng kiến sự đổi mới tư duy trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. trong đó có văn học nghệ thuật. Đời sống văn học dần dần được “cởi trói”, không khí cởi mở, dân chủ tác động mạnh mẽ đến lực lượng sáng tác - văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 nghệ sĩ, làm nảy sinh những quan niệm mới về nhà văn và dẫn đến sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người cùng sự thay đổi thi pháp thể loại của các thế hệ nhà văn Việt Nam.
Từ lớp nhà văn tiền chiến như Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Tô Hoài… đến những cây bút trẻ trưởng thành trong và sau kháng chiến chống Mỹ. Văn học viết về đề tài nông thôn cũng nằm trong quỹ đạo phát triển này. Đề tài nông thôn là đề tài không bao giờ cạn đối với văn xuôi Việt Nam.