Chương 1 “NHÀ VĂN TRẺ” PHẠM QUANG LONG VÀ CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT “LẠC GIỮA CÕI NGƯỜI” VÀ “CUỘC CỜ” 1. “Nhà văn trẻ” Phạm Quang Long 1. Đôi nét về tiểu sử Phạm Quang Long sinh năm 1952 tại Thái Bình trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và cách mạng (cha và anh trai là liệt sĩ, mẹ là Mẹ Việt Nam anh hùng). Ông lớn lên trong tình yêu thương bao la của bà mẹ nông dân lam lũ, cần cù, chắt chiu cả đời vì con.
Rời quê lên Hà Nội, chàng trai quê hương năm tấn đam mê văn chương thi vào khoa Văn Đại học Tổng hợp. Năm 1975 ông tốt nghiệp và được giữ lại làm giảng viên bộ môn Lý luận văn học. Năm 1980, ông được cử sang Nga làm nghiên cứu sinh, năm 1984 trở về nước, tiếp tục tham gia giảng dạy tại khoa Văn với nhiệt huyết của một người thầy trẻ tận tâm với nghề. Ông say sưa vừa nghiên cứu vừa giảng dạy, truyền tình yêu văn chương tới nhiều thế hệ sinh viên.
Là người có chuyên môn giỏi, lại năng nổ, nhiệt tình, có đầu óc tổ chức nên ông được giao giữ nhiều trọng trách khác nhau ở trường Đại học tổng hợp (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) và chính quyền thành phố Hà Nội. Năm 1987, ông được tín nhiệm giữ chức Phó Trưởng phòng Khoa học, từ 1992 đến 1996 ông giữ cương vị Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, từ 1996 đến 2001 là Phó Hiệu trưởng, rồi Hiệu trưởng Trường ĐHKHXH&NV. Từ 2001-2005 ông làm Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội. Từ 2005 ông làm Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch Hà Nội đến khi về hưu năm 2013.
Có thể thấy, sự nghiệp chính của Phạm Quang Long là giảng dạy, nghiên cứu và quản lí. Dù ở cương vị nào ông cũng là người nhiệt huyết với công việc chung, hòa hợp với mọi người, biết lắng nghe và vô cùng khiêm tốn. Ông 11 tận tâm với công việc được giao, luôn đặt trách nhiệm, sự chí công lên hàng đầu với tất cả sự tử tế của một người thầy, có lẽ vì thế mà ông luôn được học trò yêu quý, cấp dưới tin cậy, cấp trên tín nhiệm. Pham Quang Long là người thẳng thắn, cương trực, lại mang trong mình sự nhạy cảm, nhân hậu của người con quê lúa, vì vậy, trong cuộc sống cũng như trong công việc ông luôn chân thành.
Ai đã gặp ông dù chỉ một lần cũng đều bị thu hút bởi lối nói chuyện rất có duyên, vừa thẳng thắn lại rất tinh tế, vừa hiểu biết lại rất giản dị, đời thường. Khi còn ở Đại học Quốc gia Hà Nội, hay Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch Hà Nội, nhiều người thừa nhận Phạm Quang Long là nhà quản lí có tâm và có tầm. Dù không phải là “dân” văn hóa chính hiệu, nhưng sự am hiểu về văn hóa của Phạm Quang Long thì không nghiệp dư chút nào. Trong nhiều việc, ông có bản lĩnh để lựa chọn hướng đi khác nhiều “cây đa cây đề” trong làng văn hóa Hà Nội để bảo vệ quan điểm của riêng mình một cách thuyết phục.
Ông kể, khi còn làm Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, để chuẩn bị cho triển lãm về văn hóa Hà Nội, có một số vị cao niên trong Hội đồng tư vấn cho rằng triển lãm về văn hóa Hà Nội thì nhất định phải có chiếc xe xích lô, vì xe xích lô gắn với Thủ đô một thời kì dài, thậm chí có thể coi như một biểu tượng văn hóa của đất Hà Nội. Nhưng bằng sự tinh tế và am hiểu về văn hóa Hà Nội, Phạm Quang Long cho rằng hình ảnh chiếc xích lô chỉ gợi sự lam lũ, cực nhọc, chứ không mang tính biểu tượng cho tinh hoa văn hóa Hà Nội, và ông chọn chủ để “văn hóa thi thư” để triển lãm. Triển lãm đã thành công lớn và nhận được nhiều lời khen. Năm 2008, chuẩn bị cho đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, chính ông đã tham mưu cho lãnh đạo Hà Nội dừng dự án phim “Thái tổ Lý Công Uẩn”, một bộ phim tầm cỡ quốc gia, có cả một “Ban chỉ đạo thực hiện” với kinh phí lên tới vài trăm tỷ đồng.
Trong bối cảnh thiếu kịch bản xứng tầm với lịch sử, thiếu trang thiết bị, phim trường… nếu vẫn cố làm phim, hoàn toàn có thể tạo nên một “thảm họa điện ảnh” tiêu tốn cả chục triệu USD. Với bản 12 lĩnh của một kẻ sĩ, sự lão luyện của người từng làm công tác nghiên cứu am hiểu sâu sắc đời sống văn nghệ, lương tâm, trách nhiệm của một nhà quản lí văn hóa, Phạm Quang Long đã nhìn thấy được những hệ lụy khủng khiếp nếu cứ nhắm mắt làm phim. Dự án dừng lại, những người có tâm đều thở phào nhẹ nhõm và thầm cảm ơn người đã tham mưu cho lãnh đạo thành phố. Đó là hai trong rất nhiều câu chuyện thể hiện phần nào những gai góc trong công việc của một nhà quản lí văn hóa Thủ đô và bản lĩnh cũng như nhiệt tâm của Phạm Quang Long.
Ông không ngại va chạm, thậm chí sẵn sàng “liều mình” vì cái chung, cái đúng. Chính điều đó đã tạo nên ở Phạm Quang Long một “chất” rất riêng: vừa bản lĩnh lại rất nhân văn. Sự nghiệp sáng tác của “nhà văn trẻ” Phạm Quang Long Có thể nói sáng tác không phải là sự nghiệp chính nhưng lại là đam mê chưa khi nào dứt của Phạm Quang Long. Chính những năm tháng giảng dạy, nghiên cứu đã cho ông những am hiểu sâu sắc về loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu, những năm tháng làm quản lí đã cho ông vốn sống, sự từng trải đã giúp ông hiểu được chân tơ kẽ tóc của cái cơ chế mà trong đó mỗi người chỉ là một “cái đinh ốc” nhỏ.
Phạm Quang Long sáng tác văn chương khi tuổi đã lục tuần và trở thành “nhà văn trẻ” với sức sáng tạo dồi dào. Sở trường của Phạm Quang Long trước hết là kịch về đề tài lịch sử. Ông đã viết hàng chục vở kịch, trong đó nhiều vở đã được dàn dựng, biểu diễn trên sân khấu, có vở được nhận giải A trong Hội diễn sân khấu toàn quốc năm 2005. Năm 2014, ông xuất bản tập kịch bản văn học mang tên Nợ non sông gồm tám vở: Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nợ non sông, Những khoảnh khắc Hồ Chí Minh, Sắm vai, Người trở về, Quỷ mặt người, Quan thanh tra.
Những vở kịch của Phạm Quang Long chứa đựng cái nhìn sắc sảo, chân thực về nhân tình thế thái cả trong quá khứ lẫn hiện tại. Sáng tác đề tài lịch sử luôn là một khó khăn, thách thức với rất nhiều nhà văn, nhà viết kịch, nhà làm phim, không chỉ riêng nước ta, mà còn ở nhiều nơi 13 khác trên thế giới. Ở Việt Nam, trong rất nhiều năm qua, ở nhiều lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, đề tài lịch sử đều nhận được sự phản hồi không mấy tích cực của chính những người làm văn chương, làm sân khấu và điện ảnh, vì không xứng tầm với lịch sử nước nhà. Bước vào địa hạt văn chương về đề tài lịch sử, Phạm Quang Long có một hứng thú đặc biệt.
Những năm tháng làm văn hóa đã cho nhà văn điều kiện tiếp xúc với nhiều di tích, am hiểu nhiều nhân vật lịch sử. Chính vì vậy, Phạm Quang Long viết kịch về đề tài lịch sử như một sự đối thoại với người xưa, từ chuyện xưa mà soi chiếu vào hôm nay, tạo nên sự gần gũi giữa quá khứ và hiện tại. Đọc và xem kịch của Phạm Quang Long, ta có cảm giác, những gì liên quan đến các sự kiện lịch sử thì các nhân vật trong đó đều chỉ giống như thật chứ không hẳn là thật. Phạm Quang Long đã rất tâm đắc với quan niệm của nhà văn Pháp Alxandre Dumas (cha): “Lịch sử chỉ là cái đinh để nhà văn treo bức tranh vẽ theo trí tưởng tượng của mình”; ông quan niệm: “Tác phẩm nghệ thuật theo tôi chỉ làm cho người ta hình dung về giai đoạn lịch sử ấy và hiểu được vì sao nó lại xảy ra như thế chứ không bao giờ chỉ là bản thân nó” [21, tr.
Mỗi vở kịch của Phạm Quang Long vì thế là một bức tranh đầy sáng tạo mà nhà văn tưởng tượng, hình dung về suy nghĩ, hành động của nhân vật lịch sử, từ đó gửi gắm nhiều suy tư, trăn trở về xưa và nay. Trong kịch của Phạm Quang Long có câu chuyện về các danh nhân đất Việt như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản và Hồ Chí Minh, nhưng tất cả các nhân vật lịch sử có thật đó đều chỉ là cái cớ để Phạm Quang Long gửi gắm cái nhìn của một người hiện đại. Quan điểm của Phạm Quang Long khi viết về những nhân vật lịch sử là: “Tôi viết về họ như những con người sống trước chúng ta thôi. Họ đã nổi tiếng qua nhiều chuyện có thực và không có.
Tôi tìm hiểu về họ và lịch sử (chính thống và không chính thống) chỉ có thể cung cấp cho tôi những kết quả của công việc họ đã làm, những lí do họ được tôn vinh hay phê phán. Tôi tìm hiểu những cách thức họ đi đến đó và bất lực vì không đâu chỉ ra cho tôi những việc cụ thể này. Tôi đành viết về 14 họ qua những gì mình hình dung. Vậy nên nhân vật của tôi cũng là một nhân vật hư cấu, là sản phẩm của tôi, giống như nhân vật tiểu thuyết, không có gì lấy từ tiểu sử của họ cả” [51].
Phần lớn những nhân vật mà ông lựa chọn đều là những danh nhân văn hóa lớn của dân tộc. Ông sáng tác về các nhân vật, sự kiện lịch sử theo suy nghĩ và trí tưởng tượng của mình. Nếu nhiều tác giả khác lấy cốt là sự thật lịch sử, còn hư cấu chỉ là phụ, thì Phạm Quang Long đi theo chiều ngược lại. Trong vở kịch Cao Bá Quát, nhà văn dành hồi cuối nói về cảnh tù đày của hiền sĩ họ Cao mà nguyên nhân là đã cố tình sửa bài cho học trò trong một kì thi quốc gia quan trọng.
Phạm Quang Long khai thác nhiều hơn ở nhân vật lịch sử có thật này trong các mối quan hệ với dân chúng, với học trò, thậm chí có cả tình cảm với một bóng hồng thôn dã. Sự sáng tạo đó khiến nhân vật lịch sử gần gũi hơn, đời thường hơn với dân chúng. Các vở kịch khác về Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản (mà tác giả chỉ để cái tên không rõ ràng là Phan Thượng thư), Hồ Chí Minh cũng đều khai thác theo hướng như vậy.