Chương 1 TẢN VĂN VÀ TẢN VĂN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 1.1 Tản văn – những vấn đề về lý thuyết thể loại 1.1 Khái niệm tản văn Ở Việt Nam hiện nay, người sáng tác và người đọc không còn xa lạ gì với thể loại tản văn. Có thể dễ dàng tìm đọc tản văn trên bất kì một tờ báo nào của các tác giả và có cả nhiều tuyển tập mang tên tản văn đã được xuất bản. Nhưng cách gọi tản văn vẫn còn chưa được thống nhất về mặt nội hàm của khái niệm. Còn tồn tại những ý kiến khác nhau khi định danh thể loại văn học này.
Ở Trung Quốc thường được dùng với ba cấp độ: tản văn theo nghĩa là văn xuôi; tản văn theo nghĩa là những thể loại ngoài truyện, thơ và kịch; tản văn theo nghĩa là một thể loại văn học. Đầu thế kỉ XX, trong quan niệm của nhiều người tản văn vẫn được hiểu theo nghĩa văn xuôi, “là lối văn không đối nhau và không có vần” [20]. Hầu như tất cả các thể loại văn xuôi đều có chung cách gọi là tản văn để phân biệt với văn vần. Theo cách hiểu này trong tản văn bao gồm cả Tựa, Truyện, Ký, Bi, Luận (theo cách chia của Bùi Kỷ); Luận thuyết, Văn sách, Sử ký, Tiểu thuyết, Biện thuyết, Kịch bản, Giáo khoa, Thơ từ (theo cách chia của Nguyễn Ứng).
Hiện nay cách hiểu này không còn thông dụng nữa. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa tản văn là: “1/ Văn xuôi. 2/ Loại văn gồm các thể ký và các thể văn khác, ngoài truyện, thơ và kịch” [26, tr. Trong Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) có viết: Tản văn nghĩa đen là văn xuôi, nhưng hiện nay tản văn được dùng để chỉ một phạm vi xác định, không hoàn toàn khớp với thuật ngữ văn xuôi.
Nếu văn xuôi trong nghĩa rộng chỉ loại văn đối lập với văn vần, và trong nghĩa hẹp chỉ các tác phẩm văn phân biệt với e 9 kịch, thơ, bao gồm một phạm vi rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, ký, chính luận thì tản văn chỉ phạm vi văn xuôi hẹp hơn không bao giờ gồm các loại truyện hư cấu như tiểu thuyết, truyện ngắn. Nó là một loại hình văn học ngang với thơ, kịch, tiểu thuyết. Nhưng mặt khác tản văn lại có nội hàm rộng hơn khái niệm ký, vì nội dung chứa cả những truyện ngụ ngôn hư cấu lẫn các thể văn xuôi khác như thư, hịch, cáo…[11, tr. Xét thực tiễn các sáng tác của văn xuôi Việt Nam hiện đại được gọi tên là tản văn của những cây bút gạo cội như Nguyễn Tuân, Tản Đà, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Thảo Hảo…chúng ta thấy cách hiểu tản văn như là văn xuôi chưa được toàn vẹn, mà tản văn là những sáng tác văn xuôi ngắn, bộc bạch trực tiếp cảm xúc, tình cảm tư tưởng của người viết, trực tiếp bày tỏ chính kiến, bàn luận về các vấn đề xã hội, có cốt truyện rõ ràng hoặc cốt truyện mờ…, nhưng xoay quanh tên gọi tản văn vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau chưa hoàn toàn thống nhất.
Trên các cơ sở tìm hiểu tản văn, chúng tôi đã cố gắng đưa ra cách hiểu của mình về thể loại này như sau: Tản văn là tác phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm súc có hoặc không có cốt truyện, thể hiện rõ nét “cái tôi” tác giả bởi sau mỗi tản văn là những nét vẽ tái hiện chân dung tự họa về người nghệ sĩ. Kết cấu tự do được xây dựng theo dòng cảm xúc, suy nghĩ trên những liên tưởng của các vấn đề nhân sinh mang tính chủ quan người viết. Có thể nói, tản văn là một thể loại văn học nằm giữa hai thể loại truyện ngắn và ký văn học. Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn khái niệm về tản văn trong Từ điển văn học (bộ mới) khái niệm nói lên đầy đủ đặc điểm cơ bản nhất của thể loại tản văn: Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật.
Lối thể hiện đời sống của tản văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi e 10 hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá nhân. Điều cốt yếu là tản văn tái hiện được nét chính của những hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩa mang đậm bản sắc cá tính của tác giả [14, tr. Tản văn cũng được sinh ra từ những quan điểm nhất thời, thời sự nhưng đây không phải là tất cả để làm nên tản văn. Nhiều nhà phê bình đã tiến đến nghiên cứu, khảo cứu chăm chút cho lối viết khi tiếp cận với thể loại này.
Như vậy, có thể hiểu tản văn như là một thể loại văn học độc lập, xuất hiện với nhiều bài viết về vấn đề và đề tài khác nhau. Tác giả sử dụng lối viết tự do không ràng buộc với bất kì một thủ pháp nghệ thuật nào. Từ đó nêu lên các vấn đề bức xúc, sự thật ngổn ngang đang tồn tại, những tiếng nói, quan điểm cá nhân thể hiện một cách chân thực, sắc sảo.2 Đặc trưng của tản văn Để có thể tồn tại song hành và dần khẳng định vị thế của mình trong tương quan với các thể loại văn học khác, bản thân tản văn phải có những đặc trưng làm nên ưu thế mà các thể loại văn học khác không thể đáp ứng hoặc đáp ứng không toàn vẹn, sâu sắc như tản văn. Từ đó đặt ra một yêu cầu cần tìm hiểu đặc trưng của tản văn để thấy được sức sống nội tại mạnh mẽ khó có thể thay thế của thể loại này trong nền văn học dân tộc.
Đặc trưng cơ bản của tản văn được xác định cơ bản trong mối quan hệ tương quan so sánh với các thể loại văn học khác nhưng có mối quan hệ gần gũi như truyện ngắn, tiểu thuyết, ký…Trên cơ sở đó, ta xác định đặc trưng của tản văn như sau: Về nội dung: Đặc trưng thứ nhất của tản văn là tính đa dạng về dạng thức và đề tài. Đề tài của tản văn đặc biệt rộng lớn, bất cứ vấn đề gì của đời sống con người đều có thể được đề cập đến trong tản văn như: lịch sử, hiện tại, e 11 tương lai, văn hóa, nghệ thuật… Tác giả có thể viết bất cứ điều gì mà họ trăn trở, muốn giãi bày dù đó là vấn đề mang tính vĩ mô hay chỉ là một tâm sự cá nhân nhỏ bé. Tuy nhiên dù viết về bất cứ điều gì thì tản văn vẫn phải đảm bảo việc thể hiện quan niệm riêng của tác giả đối với vấn đề mà họ đề cập đến. Mỗi trang văn đều thể hiện cái nhìn phản ánh một phương diện nào đó về xã hội có thể thời sự hoặc không thời sự.
Nhưng mỗi tản văn đều thấp thoáng đâu đó tâm trạng của người đương thời. Khi đọc Trên tay có đá của Nguyễn Ngọc Tư hay Thầy cũ bán quán của Nguyễn Việt Hà đều thấy cách nhìn và cuộc sống con người được thể hiện thông qua lăng kính riêng của mỗi nhà văn. Đặc trưng thứ hai cần được nói đến đó là “cái tôi” của tác giả. Nếu như trong truyện ngắn hoặc tiểu thuyết “cái tôi” luôn phải giấu mình để câu chuyện tự nói lên, trong thơ “cái tôi” là cái tôi của thế giới tâm trạng, thì tản văn mang trong mình một điều khác biệt khi để “cái tôi” được nói một cách tỉ mỉ, rõ nét, tường tận đến từng chi tiết trên tất cả các phương diện tâm hồn, tư tưởng, đến các chi tiết xác thực về đời sống riêng tư của tác giả.
Nguyên tắc tự biểu hiện đã khiến tác giả tản văn lấy ngay cuộc sống của chính mình, lấy ngay những điều mắt thấy tai nghe làm chất liệu để thai nghén nên tác phẩm. Như tản văn Tờ hoa của Nguyễn Tuân, chúng ta bắt gặp ngay chân dung tự họa của nhà văn trên cả hai phương diện của đời sống tâm hồn và đời sống sinh hoạt hàng ngày của ông. Nguyễn Ngọc Tư sẽ không thể viết về Những mùa tôm chưa hẹn nếu như “cái tôi” ấy vô tình đi qua và không hiểu vì sao người nông dân chịu dầm dãi nắng mưa. Rồi tôm chết hàng loạt, chị không thể tính toán chính xác sự thiệt hại vì chị không phải là một người làm kinh tế, cũng không phải là một nhà báo kinh tế đưa ra những con số cụ thể để thấy được sự mất mùa của người dân.
Nhưng bằng trái tim và ngòi bút chị cho mọi người thấy được nỗi cơ cực của con người bằng niềm cảm thông sâu sắc. Về hình thức: Thứ nhất, tản văn là tác phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm súc có e 12 hoặc không có cốt truyện. Là tác phẩm văn xuôi có dung lượng không lớn mà phổ biến là bài văn ngắn gọn thậm chí chỉ là những mẩu truyện kể vài nét chân dung của ai đó, hoặc khơi gợi kỷ niệm để con người được sống và quay về với thời gian hoài niệm. Sự ngắn gọn có được do tản văn thường xây dựng kết cấu xoay quanh một tín hiệu thẩm mĩ trung tâm.
Trong Chim Huyền Hạc Hoàng Phủ Ngọc Tường đã dùng hình ảnh con chim Huyền Hạc làm tín hiệu thẩm mĩ trung tâm đồng thời đó cũng là biểu tượng cho nhân cách tuyệt đẹp và khát vọng không thành của người chí sĩ. Như vậy, cấu trúc chọn hạt nhân là tín hiệu thẩm mĩ trung tâm – biểu tượng, xoay quanh tâm tư, cảm xúc. Chính điều này khiến cho tản văn hàm súc, ngắn gọn. Tính ngắn gọn hàm súc vẫn là ưu thế không thể thay đổi của tản văn đã khiến thể loại văn học này dần khẳng định vị trí của chính mình trong dòng chảy văn học hiện đại.
Những ưu thế trên đã đáp ứng được nhu cầu đọc nhanh, cung cấp nhiều thông tin cho người đọc hiện nay. Tản văn có thể có hoặc không có cốt truyện. Cốt truyện trong tản văn không có vai trò ý nghĩa như cốt truyện trong truyện ngắn hay tiểu thuyết. Nó chỉ là cái cớ để người viết trực tiếp bộc bạch tâm trạng, suy nghĩ của mình về bất cứ vấn đề gì của cuộc sống được đề cập đến.
Trong tản văn, hình ảnh và chi tiết nghệ thuật mới là yếu tố quan trọng nhất, cơ bản nhất và được coi là “nhãn tự” của tác phẩm. Thứ hai, tản văn viết về người thật việc thật và sử dụng hư cấu có giới hạn trong một mức độ và phạm vi nhất định.