MỞ ĐẦU Quảng Bình là một tỉnh duyên hải thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam, nằm ở nơi hẹp nhất của nước ta với diện tích tự nhiên 806527 ha, lớn thứ 9 trong tổng số 63 tỉnh thành của cả nước. Phía Bắc giáp Hà Tĩnh với dãy Hoành Sơn, phía Nam là Quảng Trị, phía Đông giáp Biển Đông và phía Tây là dãy Trường Sơn, biên giới tự nhiên với nước bạn Lào dài 193 km. Tỉnh có thành phố Đồng Hới và 6 huyện: Minh Hoá, Tuyên Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thuỷ với tổng số dân là 853004 người năm 2011. Điều kiện tự nhiên khu vực Quảng Bình phân hoá sâu sắc theo hướng Bắc Nam và Đông Tây.
Đây là khu vực có hệ thống sông ngòi tương đối ngắn và dốc, khí hậu khắc nghiệt, hàng năm phải hứng chịu nhiều thiên tai. Địa hình đa dạng phức tạp bao gồm vùng núi phía Bắc Trường Sơn, dạng địa hình Karst ở Phong Nha - Kẻ Bàng, đồng bằng ven biển và các dải cát, đầm phá. Diện tích đất nông nghiệp thấp 79744 ha, chỉ chiếm 9,89% diện tích tự nhiên; diện tích đất lâm nghiệp 633184 ha, chiếm 78,51% diện tích tự nhiên; đất chưa sử dụng 36696 ha, chiếm 4,85%. Việc phát triển kinh tế dựa vào nông - lâm nghiệp gặp rất nhiều khó khăn cả về diện tích và chất lượng đất.
Đây là một vùng có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Miền Trung Việt Nam. Vì vậy chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài ‘’Một số đặc điểm tài nguyên đất nông nghiệp tỉnh Quảng Bình, đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý’’. 6 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH ĐẤT TỈNH QUẢNG BÌNH Đất được hình thành từ đá mẹ do sự tác động tổng hợp của các yếu tố tự nhiên sinh vật, khí hậu, địa hình, thời gian và con người.
Vì vậy nghiên cứu các tính chất đất phải dựa vào các điều kiện hình thành nên nó. Vị trí địa lý Tỉnh Quảng Bình nằm trong tọa độ địa lý: 16055‟08” đến 18005‟12” Vĩ độ Bắc, 105036‟55” đến 106059‟37” Kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, Phía Tây giáp Lào, Phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, Phía Đông giáp Biển Đông. Đặc biệt Quảng Bình ở vào nơi hẹp nhất của lãnh thổ Việt Nam với chiều ngang từ Đông sang Tây tính từ Thành Phố Đồng Hới không vượt quá 50km [18].
Vị trí địa lý trên đã chi phối các yếu tố cơ bản hình thành đất như khí hậu, thuỷ văn, địa mạo, sinh vật và hoạt động kinh tế xã hội. Đồng thời cũng cho thấy tính đa dạng trong điều kiện phát sinh, suy thoái đất và những khó khăn trong việc quy hoạch sử dụng đất đai ở khu vực. Điều kiện địa chất - đá mẹ Đá mẹ, mẫu chất hình thành đất ở Quảng Bình phân bố thành vùng tương đối rõ. Vùng phía Tây-Tây Bắc núi cao thuộc huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá chủ yếu là đá macma axit, vùng núi đá vôi chủ yếu ở phía Tây huyện Bố Trạch, Quảng Ninh và phía Nam huyện Minh Hoá, vùng đồi thấp chủ yếu là các đá trầm tích, biến chất và các sản phẩm phù sa.
Đặc điểm của một số loại đá mẹ, mẫu chất hình thành đất như sau: - Đá vôi: Quá trình hình thành đá vôi chủ yếu là do sinh vật biển nông tạo ra các dải san hô lớn. Trải qua quá trình địa chất mà tạo thành các khối đá vôi như 7 z ngày nay. Thành phần khoáng vật chủ yếu của đá vôi là canxi cacbonat có thể hoà tan trong nước, nhưng lại khó phong hoá do ngoại lực. Trên đá vôi đã thành tạo loại đất có màu đỏ nâu, thành phần cơ giới nặng, nhiều đá lẫn và đá lộ đầu.
Đất hình thành trên đá vôi tập trung chủ yếu ở huyện Minh Hoá. - Đá granit: Đá granit được hình thành do các phản ứng hoá học xảy ra trong lòng đất. Đá có màu xám sáng hoặc xám hơi vàng, các tinh thể thạch anh nổi rõ. Đá này có tỷ lệ thạch anh tự do (SiO2) cao và tồn tại dưới dạng khoáng bền vững nên khi phong hoá tạo thành đất có thành phần cơ giới nhẹ.
Có thể quan sát thấy nhiều tảng đá ven đường, sản phẩm bồi tụ xuống thung lũng có nhiều cát và sạn thạch anh. Đá granit xuất hiện ở các huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá, Quảng Trạch và Lệ Thuỷ. Đất hình thành trên loại đá này có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất có màu vàng nhạt, vàng xám - Sa thạch và phiến sa: Hai loại đá này phân bố nhiều ở huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá, Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Ninh. Đất hình thành trên các loại đá này có thành phần cơ giới nhẹ, phẫu diện đất có màu vàng nhạt, vàng đỏ là chủ đạo.
- Đá biến chất: Phân bố nhiều ở huyện Bố Trạch và Thành Phố Đồng Hới. Đá biến chất được hình thành do quá trình tái kết tinh, nên đặc điểm của chúng có khác hơn so với loại đá ban đầu. Tại Quảng Bình phổ biến là các loại đá phiến mica và granit gơnai, mặc dù đã bị biến chất nhưng vẫn mang nhiều đặc tính của loại đá ban đầu. Đất được hình thành từ đá biến chất có màu nâu vàng, đỏ vàng là chủ đạo, thành phần cơ giới trung bình, kết cấu của đất khá tơi xốp.
- Đá macma trung tính: Tại Quảng Bình chỉ có một loại là Poocfiarit có diện tích nhỏ phân bố ở 2 xã Kim Thuỷ và Ngân Thuỷ huyện Lệ Thuỷ. Đặc điểm chung của đá macma trung tính Poofiarit là có hàm lượng oxit sắt cao (9-10%), trong điều kiện nhiệt đới ẩm đã phát triển một lớp vỏ phong hoá dày hàng chục mét và có màu nâu đỏ rực rỡ, tầng đất đồng nhất, tơi xốp, có cấu trúc viên hạt, độ phì nhiêu khá - Sản phẩm bồi tụ phù sa: Sản phẩm bồi tụ phù sa cổ, phù sa cũ và mới được hình thành và phân bố chủ yếu ở hạ lưu ven các con sông lớn trong tỉnh. Vật liệu 8 z phù sa cổ có màu nâu vàng ở các tầng dưới, ở tầng mặt có màu xám do có sản phẩm hữu cơ. Đất phù sa cũ, sản phẩm phù sa biến đổi đến mức hình thành tầng loang lổ đỏ vàng, tầng glây không còn đặc tính phân lớp của phù sa mới [5].
- Trầm tích biển: Các thành tạo cát biển Việt Nam về căn bản có tuổi holocen, nhưng thay đổi tuỳ thuộc vào loại cát và tuỳ theo từng vùng. Cát trắng vàng trên suốt chiều dài bờ biển có tuổi gần như hiện đại (Phan Liêu 1987) [13]. Cát trắng ở Trung Bộ nói chung có tuổi Holocen sớm (5000-10000 năm) [5]. Tại Quảng Bình có thể chia cát biển thành các đơn vị sau: + Cồn cát: Đây là đơn vị có vật liệu thô do sóng biển để lại bên bờ biển có dạng dải cao hơn mặt nước biển 2 đến 3m hoặc cao hơn là 50m + Đất cát giữa cồn: Giữa 2 cồn cát hoặc sau cồn cát là bãi cát hoặc đất cát khá bằng phẳng mà vật liệu trầm tích gồm có phần của cồn cát và phần đầm mặn.
Loại nằm giữa 2 cồn cát thì có tỷ lệ cát cao, còn phần nằm sát với đầm mặn thì tỷ lệ cát thấp hơn. - Trầm tích đầm lầy biển: đơn vị này được rừng ngập mặn che phủ với một mạng lưới lạch triều khá dày. Phần lớn diện tích ngập triều ở mức trung bình và có một số nơi nhô ra khỏi mặt nước lúc triều thấp. Đặc trưng của trầm tích này là sự có mặt của sulfidic, hình thành bởi điều kiện yếm khí, sự ngập lụt đều đặn theo chu kỳ của nước mặn lợ [5].
Đá mẹ là yếu tố có ý nghĩa phát sinh quan trọng đối với sự thành tạo đất. Mỗi một loại đá mẹ khác nhau khi phong hóa (phong hoá hoá học, vật lý, sinh học) sẽ tạo ra các loại đất với những tính chất lý, hóa.đặc trưng khác nhau. Đặc biệt đối với các loại đất được hình thành tại khu vực địa hình là đồi núi thì vai trò của đá mẹ lại càng được thể hiện rõ rệt nhất. Quảng Bình có diện tích đất đồi núi chiếm trên 85% diện tích đất toàn tỉnh, bởi vậy đá mẹ có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành tạo và đặc điểm của đất (lý, hoá, sinh).
Cụ thể: + Các loại đất được hình thành trên đá macma axit bao gồm: đất xám bạc màu, đất vàng đỏ và đất mùn vàng đỏ. 9 z + Đất hình thành trên đá macma trung tính: đất nâu đỏ. + Đất hình thành trên đá cát: đất cát, đất vàng xám, đất mùn vàng nhạt. + Đất hình thành trên các trầm tích đầm lầy biển gồm có: đất mặn, đất phèn, đất phù sa glây, đất phù sa úng nước, đất xám bạc màu glây.
+ Đất hình thành từ các sản phẩm bồi tụ phù sa gồm: đất phù sa, đất xám và đất nâu vàng. + Đất hình thành trên đá phiến sét, đá biến chất cho đất màu đỏ vàng [5]. Điều kiện địa hình - địa mạo Lịch sử và điều kiện địa chất quyết định sự thành tạo nền thạch học, là vật liệu ban đầu thành tạo đất. Các cấu trúc địa chất cũng là cơ sở để thành tạo địa hình và các địa hình dạng khác nhau của bề mặt đất.
Quảng Bình nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn có địa hình hẹp và dốc, địa hình đồi núi chiếm tới 85% diện tích tự nhiên phân bố phức tạp và bị chia cắt mạnh, đồng bằng chiếm diện tích nhỏ bị chia cắt bởi các dãy núi. Tỉnh Quảng Bình có các dạng địa hình sau: - Núi trung bình uốn nếp khối nâng lên mạnh: Kiểu địa hình này tạo thành dải nằm dọc theo biên giới Việt-Lào, bao gồm các núi cao > 900m như: núi Pu Cô Pi 2017m, Cô Ta Run 1624m, Cà Rông 1540m, Ba Rền 1137m, Bãi Dinh 1029m, U Bò 1009m, Hoành Sơn 1044m. Các dãy núi này và các dãy núi khác trong khu vực được hình thành sau vận động Hecxini muộn, nhưng đến vận động Kainôzôi được nâng lên mạnh mẽ. Các khối granit xâm nhập thường có độ dốc lớn, đỉnh nhọn và cao nhất vùng.
Các núi cát kết, phiến sét hình thái mềm mại hơn, các đường phân thuỷ có khi sắc sảo, rõ nét, có chỗ lại hơi bằng hoặc lượn sóng. Nói chung dạng địa hình này hiểm trở, giao thông đi lại rất khó khăn. - Núi thấp uốn nếp nâng lên yếu: Kiểu địa hình này chiếm phần nhiều diện tích đất của tỉnh, có độ cao < 900m, cấu trúc địa chất tương đối phức tạp, bao gồm cả hai đới kiến trúc tướng đá Trường Sơn và Hoành Sơn.