CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu Với hơn 750.000 ha diện tích mặt nước nuôi thủy sản, hằng năm Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cung cấp cho thị trường khoảng 70% sản lượng thủy sản nuôi (2.246 tấn) của cả nước (Tổng cục thống kê, 2016), gồm những đối tượng chủ lực như: cá tra, cá basa, cá điêu hồng, cá rô phi,. Tuy nhiên nghề nuôi các đối tượng trên đang gặp một số khó khăn nhất định về giá cả thị trường cũng như dịch bệnh. Do đó, đa dạng hóa đối tượng nuôi mới, đặc biệt là các loài cá bản địa là một trong những giải pháp cấp thiết hiện nay góp phần phát triển nghề nuôi thủy sản bền vững. Đồng thời, việc nghiên cứu thuần hóa thành công một loài cá hoang dã còn góp phần giảm áp lực khai thác, bảo vệ nguồn lợi của chúng trong tự nhiên.
Trong các loài cá nước ngọt, họ cá lóc Channidae (thuộc Bộ Perciformes), được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm do chúng có kích thước lớn, thịt ngon và sức sống cao. Nhiều loài đã được nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm sinh học, sản xuất giống và phát triển công nghiệp nuôi quan trọng ở các nước trong khu vực như Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Phillipines, Ấn Độ và Malaysia (Muntaziana et al. Ở ĐBSCL họ cá lóc có 04 loài trong cùng một giống Channa, gồm cá lóc đen Channa striata, cá lóc bông C. lucius và cá chành dục Channa gachua (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Trần Đắc Định và ctv.
Trong đó, cá lóc đen và cá lóc bông đã được nghiên cứu nhiều và phát triển nghề nuôi do chúng có kích cỡ lớn và giá trị kinh tế cao (Nguyễn Huấn và Dương Nhựt Long, 2008). Gần đây, cá dầy cũng đã được nghiên cứu sinh học và sản xuất giống (Tiền Hải Lý, 2016). Riêng loài cá chành dục do kích thước nhỏ nên chưa được quan tâm, các nghiên cứu ban đầu mới chỉ dừng lại ở đặc điểm hình thái phân loại và phân bố (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Nguyễn Văn Hảo và ctv., 2011; Trần Đắc Định và ctv. Cá chành dục là loài cá địa phương của đồng bằng Nam bộ, chúng cũng phân bố tự nhiên ở một vài nước lân cận như Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Myanmar, Thái lan, Lào, Campuchia (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Trần Đắc Định và ctv.
Cá có màu màu sắc đẹp ở vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi với nền màu xanh (con đực), viền ngoài màu đỏ hồng hoặc đỏ cam. Màu sắc hấp dẫn của cá chành 1 dục đã được sự chú ý của thị trường cá cảnh, đặc biệt là thị trường cá cảnh ngoài nước. Như vậy, cá chành dục là đối tượng nuôi tiềm năng đáp ứng được nhu cầu đa dạng hóa các loài vật nuôi và bảo vệ nguồn lợi tự nhiên các loài cá bản địa. Để phát triển nghề nuôi cá chành dục, rất cần thiết phải có những thông tin cơ bản về đặc điểm sinh học cũng như khả năng sản xuất giống nhân tạo của loài cá này.
Chính vì vậy, đề tài “Đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá chành dục Channa gachua (Hamilton, 1822)” được thực hiện.2 Mục tiêu của nghiên cứu 1.1 Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu này nhằm cung cấp những cơ sở khoa học về đặc điểm sinh học và một số yếu tố kỹ thuật trong sản xuất giống cá chành dục, góp phần vào việc phát triển kỹ thuật sản xuất giống và nuôi đối tượng này trong tương lai, đồng thời góp phần bảo vệ nguồn lợi loài cá bản địa thuộc giống Channa ở ĐBSCL.2 Mục tiêu cụ thể Xác định các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học sinh trưởng, dinh dưỡng và sinh sản của cá chành dục làm cơ sở khoa học cho việc phát triển kỹ thuật sản xuất giống và ương nuôi loài cá này. Xác định loại và liều lượng chất kích thích sinh sản thích hợp trong sinh sản nhân tạo cá chành dục và một số yếu tố kỹ thuật gồm mật độ và loại thức ăn thích hợp trong ương nuôi cá chành dục giai đoạn từ cá mới nở đến 30 ngày tuổi.3 Nội dung nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học Hình thái và định danh cá chành dục bằng phương pháp phân tích gen trên ty thể (gen cytochrome b) Đặc điểm sinh học sinh trưởng Đặc điểm sinh học dinh dưỡng Đặc điểm sinh học sinh sản 1.2 Kích thích sinh sản và ương nuôi cá bột 2 Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục cá chành dục bằng các loại thức ăn khác nhau Sử dụng HCG, não thùy và LHRH-a + Dom kích thích cá chành dục sinh sản Ương cá chành dục với các mật độ và thức ăn khác nhau giai đoạn từ cá bột lên cá hương.4 Ý nghĩa của luận án Luận án đã bổ sung những kiến thức cơ bản về đặc điểm hình thái, sinh học dinh dưỡng và sinh học sinh sản của loài cá chành dục. Đồng thời, luận án cũng xác định được một số yếu tố kỹ thuật cơ bản trong sản xuất giống (loại và và liều lượng của hormone HCG và LHRHa dùng kích thích sinh sản) và ương nuôi cá chành dục giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi (thức ăn, mật độ). Kết quả của nghiên cứu là cơ sở khoa học quan trọng trong việc thuần hóa loài cá này và góp phần phát triển kỹ thuật sản xuất giống và ương nuôi cá chành dục.5 Điểm mới của luận án Luận án cung cấp dữ liệu mới về đặc điểm hình thái và đặc điểm gen cytochome b của cá chành dục, góp phần định danh chính xác loài cá này.
Luận án xác định được đặc điểm cơ bản trong sinh học dinh dưỡng và sinh học sinh sản của cá chành dục gồm: phổ dinh dưỡng (tép nhỏ, cá con, giun, thân mềm,.), kích thước cá thành thục lần đầu (11,85 mm), sức sinh sản tuyệt đối trung bình (1.709 trứng/cá thể) và mùa vụ sinh sản (tháng 7-10). Luận án xác định được một số yếu tố kỹ thuật quan trọng trong sản xuất giống cá chành dục. Đó là, trong nuôi vỗ cá, nguồn thức ăn là tép sông cho hiệu quả thành thục cao (GSI=2,88%); Phương pháp sinh sản tự nhiên hoặc sử dụng kích thích tố HCG (với liều 2.000 IU cá đực và 500 IU cá cái) kết hợp với não thùy (5 mg) cho hiệu quả sinh sản cao; Trong giai đoạn ương cá từ mới nở đến 30 ngày tuổi, mật độ ương 5 con/L và thức ăn sử dụng là moina kết hợp với trùn chỉ cho kết quả tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá tốt. Các kết quả đạt được có thể ứng dụng vào thực tế sản xuất giống loài cá chành dục, chủ động cung cấp con giống, thúc đẩy sự đa dạng hóa đối tượng nuôi thủy sản.
3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu tổng quan về họ cá lóc Channidae Họ cá lóc (Channidae) là họ cá nước ngọt có cơ quan hô hấp khí trời, phân bố rộng khắp thế giới. Họ Channidae có 2 giống là Channa và Parachanna. Hệ thống phân loại họ Channidae gồm có 26 loài thuộc giống Channa và 3 loài thuộc giống Parachanna (Walter and James, 2004). Một vài loài có kích thước nhỏ khoảng 17 cm nhưng một số khác thì kích thước rất lớn có thể lên đến 1,8 m.
Tất cả các loài thuộc họ Channidae đều là loài cá ăn động vật điển hình. Tại nhiều quốc gia, một số loài thuộc giống Channa được đánh giá cao về giá trị thực phẩm đặc biệt là ở Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Quốc. Từ rất lâu, chúng đã trở thành đối tượng quan trọng trong nghề đánh bắt cá và trong những thập kỷ gần đây, một số loài đã được đưa vào nuôi phổ biến như cá lóc đen (Channa striata), cá lóc bông (Channa micropeltes) ở Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Campuchia, cá chành dục (Channa gachua) ở Trung Quốc và Đông Nam Á, cá lóc Channa argus ở Trung Quốc (Pantulu, 1976; Wee, 1982).1 Vị trí phân loại và thành phần loài của họ cá lóc Channidae 2.1 Vị trí phân loại Theo Kottelat et al. (1993), Lee và Ng (1991), họ cá lóc Channidae có vị trí phân loại như sau: Ngành: Chordata Ngành phụ: Verterbrata Lớp : Pisces Phân lớp: Actinopterygii Bộ: Perciformes Phân bộ: Channoidei Họ: Channidae Giống : Channa Giống : Parachanna 4 2.2 Thành phần loài của họ cá lóc (Channidae) Họ Channidae gồm 2 giống là Channa và Parachanna, giống Channa với 26 loài phân bố chủ yếu ở khu vực châu Á, trong khí đó giống Parachanna chỉ có 3 loài phân bố ở châu Phi.
Đa phần các loài có kích thước lớn, giá trị kinh tế cao và quan trọng đối với nghề nuôi và khai thác trong khu vực châu Á (Walter and James, 2004; Nguyễn Văn Thường, 2004). Tên chi tiết các loài cá được trình bày trong Bảng 2.1: Thành phần các loài thuộc họ cá lóc Channidae (Walter and James, 2004; Nguyễn Văn Thường, 2004) STT Tên khoa học Tên tiếng Anh Giống Channa 1 Channa amphibeus (McClelland, 1845) Chel snakehead 2 Channa argus (Cantor, 1842) Northern snakehead 3 Channa asiatica (Linnaeus, 1758) Chinese snakehead 4 Channa aurantimaculata Musikasinthorn, 2000 - 5 Channa bankanensis (Bleeker, 1852) Bangka snakehead 6 Channa baramensis (Steindachner, 1901) Baram snakehead 7 Channa barca (Hamilton, 1822) Barca snakehead 8 Channa bleheri Vierke, 1991 Rainbow snakehead 9 Channa burmanica Chaudhuri, 1919 Burmese snakehead 10 Channa cyanospilos (Bleeker, 1853) Bluespotted snakehead 11 Channa gachua (Hamilton, 1822) Dwarf snakehead 12 Channa harcourtbutleri (Annandale, 1918) Inle snakehead 13 Channa lucius (Cuvier, 1831) Splendid snakehead 14 Channa maculata (Lacepède, 1802) Blotched snakehead 15 Channa marulioides (Bleeker, 1851) Emperor snakehead 16 Channa marulius (Hamilton, 1822) Bullseye snakehead 17 Channa melanoptera (Bleeker, 1855) Blackfinned snakehead 18 Channa melasoma (Bleeker, 1851) Black snakehead 19 Channa micropeltes (Cuvier, 1831) Giant snakehead 20 Channa nox Zhang and Watanabe, 2002 Night snakehead 21 Channa orientalis Schneider, 1801 Ceylon snakehead 22 Channa panaw Musikasinthorn, 1998 Panaw snakehead 23 Channa pleurophthalma (Bleeker, 1851) Ocellated snakehead 24 Channa punctata (Bloch, 1793) Spotted snakehead 25 Channa stewartii (Playfair, 1867) Golden snakehead 26 Channa striata (Bloch, 1793) Chevron snakehead Giống Parachanna 1 Parachanna africana (Steindachner, 1879) Niger snakehead 2 Parachanna insignis (Sauvage, 1884) Congo snakehead 3 Parachanna obscura (Gunther, 1861) African snakehead Trong đó, giống Channa khu vực sông Mekong có 6 loài (Rainboth, 1996; Nguyễn Văn Thường, 2004) là: 5 Channa lucius (Cuvier, 1831) Channa marulius (Hamilton, 1822) Channa melasoma (Bleeker, 1851) Channa micropeltes (Cuvier, 1831) Channa orientalis (Schneider, 1801) Channa striata (Bloch, 1793) Riêng ở Việt Nam, các tỉnh phía Bắc họ cá lóc Channidae có 4 loài (Mai Đình Yên, 1978): Cá xộp (C. striata) phân bố rộng trong cá thuỷ vực miền núi, đồng bằng và nước lợ có nồng độ muối thấp. Kích thước tối đa 90 cm.
gachua) sống ở miền núi các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Loài này có vi bụng nhỏ. Kích thước tối đa 20 cm. maculata) phân bố tương tự cá xộp.