Đặt vấn đề Cây hành hoa có tên khoa học là Allium fistulosum sp, thuộc họ hành tỏi Alliaceae, tên Tiếng Anh là Welsh onion. Hành hoa là một trong những loại rau gia vị rất không thể thiếu trong từng bữa ăn của mỗi gia đình. Hiện nay, trên địa bàn Hưng Yên hành hoa được trồng phổ biến ở Khoái Châu, tại đây đã hình thành vùng truyền thống chuyên canh trồng hành hoa quanh năm với diện tích khá lớn, để sản xuất ra sản phẩm hành hoa an toàn đang gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là khâu phòng trừ sâu hại. Trong các loại sâu hại quan trọng và phổ biến trên rau nói chung và hành hoa nói riêng có sâu xanh da láng.
Chúng thuộc loại đa thực phá hại tiêu rất nhiều loại cây như đạu đỗ, lạc, hành tây, nho, bông, rau bắp cải.Sâu gây hại mạnh từ khi bắt đầu ra hoa, đậu quả cho đến lúc làm hạt ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nông sản cũng như năng suất kinh tế. Không những thế, ở tất cả các pha phát dục của sâu xanh da láng đểu có khả năng gây hại. Sâu non tuổi nhỏ sống quần tụ, gậm nhu mô lá để lại lớp biều bì. Sâu thích phá hại trên các lá bánh tẻ.
Từ tuổi 3 sâu bắt đầu phân tán cắn khuyết lá, khi phá hại mạnh chỉ còn để lại cành và thân cây, gây thiệt hại lớn đến năng suất. Sâu keo da láng thường gây hại nặng trong mùa khô, từ tháng 11 cho đến tháng 4, ít phá hại trong mùa mưa. Đặc biệt trên sâu xanh còn gặp virus gây bệnh thối nhũn (NPV). Ngoài ra còn thấy nấm gây bệnh Baccilus thuringiensis.
Sâu xanh da láng có tính chống thuốc mạnh với nhiều loại thuốc hoá học đang sử dụng hiện nay, vì vậy dùng thuốc ít hiệu quả. Theo kết quả điều tra trên đồng ruộng trong những năm lại đây cho thấy, nhiều nơi và nhiều vụ diện tích trồng hành do sâu xanh da láng gây hại lên tới trên 70%. Nguyên nhân chính làm cho sâu xanh da láng S. exigua phát sinh gây hại mạnh là do thời tiết thuận lợi, chế độ canh tác không hợp lí, sử dụng quá nhiều phân hóa học và thuốc Bảo vệ thực vật 1 (BVTV) phòng trừ làm hệ sinh thái đồng ruộng biến đổi có lợi cho sự phát triển của quần thể sâu hại này.
Để khắc phục được tình trạng trên, việc nghiên cứu thành phần, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và bảo vệ nguồn thiên địch là rất cần thiết trong phòng trừ sâu hại vừa góp phần duy trì cân bằng sinh thái, vừa hạn chế sự bùng phát thành dịch. Việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới trong BVTV là việc làm cần thiết góp phần tích cực cho công tác dự tính dự báo, phòng trừ đạt hiệu quả cao giúp giảm số lần phun thuốc BVTV hoá học, nâng cao năng suất, chất lượng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái. Thời gian qua, bên cạnh những biện pháp phòng trừ truyền thống, người sản xuất đã bước đầu áp dụng những biện pháp mới như: Canh tác cải tiến, sử dụng bẫy pheromone giới tính, chế phẩm sinh học và các loại thuốc BVTV nguồn gốc sinh học trong phòng trừ sâu xanh da láng. Để có thể đánh giá hiệu lực của các biện pháp trên nhằm khuyến cáo và hướng dẫn nông dân sử dụng đạt hiệu quả cao trong biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng hại hành hoa.
Trên cơ sở đó, dưới sự phân công của Bộ môn Côn trùng, khoa Nông học và sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Ngọc Anh, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “thành phần côn trùng; nhện hại hành hoa tại hưng yên năm 2020; đặc điểm sinh học,sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng Spodoptera exigua Hubner” 1.2 Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích Trên cơ sở xác định thành phần côn trùng, nhện hại hành hoa tại Hưng Yên; điều tra diễn biến mật độ sâu xanh da láng trên hành hoa; nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ sâu xanh da láng hại hành hoa; làm sơ sở đề xuất biện pháp quản lý tổng hợp loài sâu xanh da láng hại hành hoa đạt hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và môi trường.2 Yêu cầu 2 - Xác định thành phần sâu hại và thiên địch trên cây hành hoa tại xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên - Điều tra diễn biến mật độ của sâu xanh da láng hại trên cây hành hoa tại xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên - Xác định một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của sâu xanh da láng hại hành hoa. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2. Thành phần sâu hại và thiên địch trên hành hoa Hành hoa là loại rau màu ngắn ngày, có thể trồng quanh năm, thích hợp trên nhiều loại đất, nó thường được sử dụng làm rau, gia vị hoặc làm thuốc. Trong suốt thời gian sinh trưởng của cây hành hoa có thể có đến hơn chục đối tượng sâu bệnh xuất hiện và gây hại.
Hành hoa bị nhiều loại dịch bệnh và côn trùng gây hại tấn công ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau gây thiệt hại đáng kể về năng suất. Ngoài việc làm giảm năng suất cây trồng, dịch bệnh và côn trùng gây hại còn gây ra tác hại trong các khâu thu hoạch, sau thu hoạch, chế biến và tiếp thị, làm giảm chất lượng và tiềm năng xuất khẩu của cây trồng, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế. Côn trùng gây hại đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất hành hoa ở Ấn Độ. Trong thập kỷ qua, cả sự phổ biến và phân bố của các loại côn trùng gây hại đều gia tăng với tác động tàn phá.
Tổn thất năng suất thay đổi từ 10–15% hàng năm, tùy thuộc vào mùa vụ và mức độ phổ biến của côn trùng gây hại. Một số côn trùng gây hại đã được báo cáo ở Ấn Độ, nhưng trong một cuộc khảo sát gần đây chỉ ra bọ trĩ hành ( Thrips tabaci ) được xác định là có tầm quan trọng quốc gia. Sự phá hoại của bọ trĩ được quan sát thấy trong cả hai vụ nhưng nghiêm trọng hơn trong vụ đông / hè (tỷ lệ mắc 2% –100% và số bọ trĩ / cây 0,2–30,3) (Gupta & cs. Loài côn trùng gây hại chính trên hành hoa trong hai mùa ở vùng Mansoura là bọ trĩ (36,3 và 36,9%), rệp muội (Aphis gossypii Glover) (28,7 và 28,5%), rầy xanh (Eumerus amoenus Loew) (19,3 và 18,0%) và ruồi đục lá (Liriomyza trifolii Burgess) (2,4 và 2,1%) lần lượt trong các mùa 2007/2008 và 2008/2009.
Mặt khác, các loài côn trùng gây hại trên cây hành hoa có tỷ lệ xuất hiện thấp là bọ xít xanh (Nezara viridula) (0,4 và 0,4%), bọ phấn (Bemisia tabaci) (0,4 và 0,6%), sâu keo (Spodoptera littoralis) (0,2 và 0,4%). Bên cạnh 4 đó, các loài thiên địch bắt mồi trên hành hoa cũng vô cùng đa dạng: bọ rùa bảy đốm Coccinella undecimpunctata (31,7 và 17,0%), Coccinella septempunctata (32,3 và 38,7%), Cydonia vicina nilotica (19,2 và 28,7%) và bọ cánh mạch Chrysoperla carnea (16,8 và 15,6%) trong các mùa 2007/2008 và 2008/2009 (Awadalla & cs. Phân bố và tình hình gây hại của sâu xanh da láng Spodoptera exigua Vị trí phân loại : Lớp (class): Insecta; Bộ (ordo): Lepidoptera; Họ (familia): Noctuidae; Chi (genus): Spodoptera; Loài (species): Spodoptera exigua. Phân bố và sự gây hại: Spodoptera exigua có nguồn gốc ở Nam châu Mỹ, sau đó phân bố rộng sang Bắc Mỹ, Mexico, châu Phi, châu Âu, Ấn Độ và Australia.
Theo nhà côn trùng học Ronald FL Mau (2007), sâu xanh da láng có phạm vi phân bố rất rộng, chủ yếu ở những vùng có khí hậu khô nóng, ấm áp và hiện nay phổ biến ở: Arizona, California, Colorado, Kansas, New Mexico,Oregon và Hawaii, Kauai, Maui, Oahu… Chúng đã được ghi nhận có mặt ở 67 quốc gia trên thế giới, các khu vực phân bố của S. exigua đã tăng lên 34 quốc gia kể từ năm 1972 (Xia-lin & cs. Theo nhiều tài liệu điều tra sau đó cho thấy vùng phân bố của nó được mở rộng lên phía bắc châu Âu (Na Uy, Phần Lan, Thụy Điển, .) và Nam Mỹ (Brazil, Bolivia, Chile,. Sự phân bố về vị trí địa lý của sâu xanh da láng S.
exigua thay đổi từ 57 vĩ độ bắc đến 45 vĩ độ nam. Nhưng, trưởng thành sâu xanh da láng S. exigua đã được ghi nhận bằng bẫy ánh sáng theo dõi ở nhiều năm tại Sotkamo (64, 13°N) thuộc Phần Lan (Mikkola, 1970). Do đó, sự phân bố địa lý của sâu xanh da láng S.
exigua được thay đổi từ 64°N đến 45°S. Sâu xanh da láng gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng ở nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ và châu Á. Chúng được tìm thấy ở các vùng ôn đới và cận nhiệt đới bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Hoa Kỳ. Năm 1892, Trung Quốc lần đầu tiên ghi nhận sự xuất hiện của chúng và bùng phát số lượng lớn gây thiệt hại kinh tế.
Đầu năm 1980, loài côn trùng này đã tấn công hành tây ở 5 Nhật Bản và bây giờ trở thành sinh vật hại nghiêm trọng nhất của hành tây ở phía tây nam Nhật Bản (Wakamura & cs. Ở Malaysia, sâu xanh da láng gây hại nhiều trên cánh đồng trồng cải ngọt bắp, đậu cô ve, cải bó xôi, rau cần tây và cánh đồng trồng hoa cẩm chướng với các giống hoa màu hồng, tím, và đỏ. Trưởng thành sâu xanh da láng được tìm thấy quanh cao nguyên Cameron, Pahang, Malaysia (Azidah, 2008). Ở Mỹ, sâu xanh da láng được phát hiện quần thể đầu tiên ở Oregon vào năm 1876 và vài năm sau chúng đã thiết lập quần thể ở Bắc Mỹ, Mexico và vùng Caribê.
Chúng tấn công nhiều loại cây trồng khác như các loại rau, cây ăn quả cây cảnh, cỏ dại trên cánh đồng và nhà lưới. Đặc biệt là những vùng sản xuất rau làm giảm đáng kể năng suất, là loài sâu hại chính tại các vùng cà chua ở Geogria và trở thành loài sâu hại thứ hai trên cây bông. Các vùng trồng bông ở Georgia năm 1988 cũng bị loài sâu hại này tấn công. Diện tích bị chúng gây hại là 102.505 ha bị hại rất nặng.
Sản lượng bông bị mất ở vùng này là 2. Cùng thời điểm này các vùng trồng đậu tương ở Geogria cũng bị loài sâu hại này tấn công. Chi phí cho việc phòng trừ này là 558. Sản lượng đậu tương bị mất là 272 tấn.
Chỉ trong năm 1998 có khoảng 2.000 ha cây bông ở Mỹ đã bị sâu xanh da láng gây hại nặng và làm thiệt hại khoảng 19,2 triệu USD (Gore & cs. Ở Texas, sâu xanh da láng đã bùng phát số lượng thành dịch trên cây bông vào năm 1995.