CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Thơ và các khái niệm liên quan 1. Khái niệm thơ Thơ, một loại hình nghệ thuật ra đời hầu như sớm nhất gắn liền với nhảy múa và ca nhạc (thơ ca), được sử dụng trước tiên trong các nghi lễ thần linh, ma thuật ngay từ thời nguyên thủy. Trong tiếng Trung Hoa, thơ được đọc là thi được dùng để ghi chép lịch sử (sử thi) và được dùng chung ở vùng Đông Á cổ và trung đại.
Thuật ngữ poiè sis của Hi Lạp được dùng chung ở vùng châu Âu để nói về nền thi ca. Đối lập với thơ, văn xuôi (thuật ngữ văn ở Trung Hoa và Đông Á và prosa gốc La tinh được dùng ở châu Âu) thường được dùng để gọi chung những tác phẩm chữ viết không mang tính nghệ thuật như sử, triết, chính luận, hành chính,. Vào thời cận đại, hiện đại, thơ có nghĩa hẹp chỉ riêng loại hình sáng tác cụ thể như thơ trữ tình, thơ tự sự, trường ca.Mặc dù thơ luôn hiện hữu thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày, trong thực tế cuộc sống, tuy nhiên đưa ra một định nghĩa chung về nó là điều khó khăn. Định nghĩa về thơ, Jakobson đưa ra luận điểm: Thơ là thứ ngôn ngữ tự quy chiếu, tự nó đầy đủ cho nó [22].
Ông bình luận thêm: ý nghĩa của bài thơ không phải chỉ ở cái được nói mà chủ yếu còn ở cách nói. Ngôn ngữ không còn là phương tiện truyền thông mà là nội dung của việc truyền thông. Với những mức độ khác nhau có thể nói hầu hết các trường phái phê bình hiện đại đều tập trung vào một nội dung đặc biệt trong thơ: bản thân hình thức của thơ [22]. Từ đó, ông khái quát: Là thơ, theo các nhà hình thức luận của Nga là kỹ thuật, theo các nhà cấu trúc luận của Pháp là một hệ thống kí hiệu, theo các nhà phê bình mới của Mỹ là một cấu trúc của ý nghĩa [22].
Phạm Quỳnh đã đưa ra một định nghĩa rất đơn giản về thơ, chú ý tương quan giữa thơ và họa: Ta coi thơ tức là vẽ, và vẽ tức là thơ; thơ là vẽ bằng lời, bằng âm thanh, vẽ là thơ bằng hình, bằng màu sắc [Dẫn theo 17]. Nhà thơ Hàn Mặc Tử lại đưa ra quan niệm về thơ dựa trên thánh chúa: Thơ là một tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao trở lại trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy , 8 vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt. Thơ là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt. Năm 1949, Nguyễn Đình Thi viết Mấy ý nghĩ về thơ đã trình bày sự khác biệt giữa văn và thơ, những nguyên nhân khiến nghệ sĩ sáng tác và tác dụng tình cảm của thơ ca.
Ông cho rằng: Tâm hồn chúng ta có một rung động thơ khi nó thoát ra khỏi trạng thái bình thường. Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói - tức là chữ - để thể hiện một trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thường [Dẫn theo 30]. Được coi như người khai sinh ra phong trào thơ tự do ở miền Nam sau 1954, Thanh Tâm Tuyền đã từ chối quan niệm thi nhân và thi ca cổ điển. Ông nhấn mạnh: Vần của nó (thơ tự do ) là vần ẩn dấu cách xa (có thể đi tới khác âm, nghịch thanh), nhịp điệu của nó.
là một thứ nhịp điệu rộng rãi, phức tạp ở một trình độ nghệ thuật cao hơn đối với thứ nhịp điệu đơn giản rút gọn [ Dẫn theo 30]. Tiếp nhận tư tưởng của Jakobson, từ năm 1973, Đặng Tiến đã có những bài viết giới thiệu và phân tích sắc sảo về một số vấn đề cốt yếu của thi học: thơ khác ngôn ngữ chung ra sao, sự khác biệt giữa văn và thơ, lời thơ và ý thơ. Ông khái quát: Ngôn ngữ nói chung và văn xuôi nói riêng nhằm phục vụ một đối tượng trong cuộc sống hàng ngày. Thơ trái lại là một ngôn ngữ tự lấy mình làm đối tượng [42].
Nhưng ông cũng đã lưu ý: Nói thơ là một ngôn ngữ tự tại không có nghĩa rằng thơ không cần có ý nghĩa. Cũng không hàm ý rằng thơ không tương quan gì đến thực tế nhất là thực tại xã hội. Đây là hai điểm chính yếu ta không nên ngộ nhận [ 42]. Dựa vào quan điểm đó, Đặng Tiến đã có nhiều bài phê bình có giá trị về các nhà thơ Việt Nam như Nguyễn Trãi, Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, Hàn Mặc Tử.
Năm 1985, cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều của Phan Ngọc được công bố đã thực sự khuấy động một hướng tiếp cận tác phẩm văn học mới tại Việt Nam: Nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ. Và đến năm 1995, trong công trình Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, Phan Ngọc đã đưa ra định nghĩa về thơ: Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này [32]. Theo đó, ông khẳng định thêm: Một khi đã nhìn theo quan điểm này thì từ, nhịp, vần, phách, thể loại, trường phái. cái gì cũng có nội dung của nó và nội dung ấy là những kiểu quan hệ [32].
Cùng với Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh đã đi sâu 9 nghiên cứu những đặc trưng của thơ từ phương diện ngôn ngữ trong tiểu luận Ngôn ngữ thơ [3]. Lĩnh hội tư tưởng về thơ của Jakobson, Nguyễn Phan Cảnh đã có những phân tích cụ thể về các đặc trưng của thơ trong phân biệt với văn xuôi. Từ góc độ lý luận, xem xét thơ trong mối quan hệ tổng hòa giữa nội dung và hình thức, Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa thơ là: Hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu [45]. Định nghĩa này đã bao quát được đầy đủ các tiêu chí về cả nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ, hơn nữa nó còn chỉ ra đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ để khu biệt với ngôn ngữ trong các thể loại văn học khác.
Các khái niệm liên quan đến thơ 1. Khái niệm thi pháp học Thi pháp học (poetics) là một phân môn của lý luận văn học được định nghĩa: "Thi pháp học là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hoá các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào việc tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu của sáng tác nghệ thuật" (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục 2009, tr. Thi pháp coi đối tượng là văn bản nghệ thuật (trong đó có thơ) đề cập đến 3 nội dung: - Sự sáng tạo văn chương, các nguyên lý và hình thức; - Cấu trúc một tác phẩm văn chương; - Hệ thống các phương tiện, thủ pháp biểu đạt: từ ngữ, âm thanh, chữ viết, biểu tượng.
Khái niệm thi học Thi học (poetic art) là một phân môn của thi pháp. Thi học nghiên cứu các đặc trưng của ngôn ngữ thơ và các nguyên lí phân tích ngôn ngữ thơ. Thi học xem thơ là ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng, có tổ chức nhất về mặt âm thanh, được tạo thành từ những tiết đoạn liên quan với nhau, phụ thuộc vào nhau thông qua hình thức âm thanh (vần và nhịp). 10 Nội dung của thi học gồm: - Thi luật - Thi âm - Thi tiết - Thi điệu - Thi đoạn - Thi vận - Bố cục Trong các nội dung trên, thi luật có vai trò quan trọng nhất.
Nghiên cứu thi học của bất cứ một nền thi ca nào đó, về bản chất là đi tìm các nguyên lí, các qui tắc sử dụng các yếu tố và quan hệ của các yếu tố đối với mỗi bài thơ, thể loại thơ và nền thi ca của dân tộc đó. Khái niệm thi luật Thi luật (versification, prosody) là một phân môn của thi học, ra đời từ rất khi người ta nghiên cứu về thi ca Hi lạp, La mã cổ đại. Thi luật lấy đối tượng nghiên cứu là các qui tắc, các phương thức về ngữ âm dùng để sáng tạo thơ ca. Bộ môn này đó phát triển và hoàn thiện và được coi là phần quan trọng nhất của ngành thi học.
Nội dung của thi luật nghiên cứu: - Cách thức tổ chức và hoà phối các âm/thanh trong dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ (thi âm); - Cách thức tạo lập một dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ thông qua các bước thơ (thi tiết); - Qui tắc về nhịp điệu của dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ (thi điệu); - Qui tắc về vần điệu dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ (thi vận); - Cách thức tổ chức một khổ thơ từ nhiều dòng thơ (thi đoạn). Tuy nhiên, tuỳ từng ngôn ngữ, quan niệm về thi luật có khác nhau. Các học giả Pháp khảo sát các kĩ thuật liên quan đến câu thơ, sự cấu thành khổ thơ, nhịp điệu và âm hưởng (sonorite'). Họ còn nói đến tính nhạc của thơ mà tính nhạc này được thể hiện bằng vần (nhiều kiểu koại vần khác nhau); sự điệp âm (nguyên âm và phụ âm) trong nhiều dòng thơ; sự điệp khúc và sự tương quan giữa âm và nghĩa.
Các học giả Pháp cũng nhấn mạnh: thơ là để đọc ra bằng miệng cho 11 nên nhịp điệu, số lượng âm tiết, trọng âm, chỗ ngắt giọng.là quan trọng. Các học giả Anh Mỹ xem thi luật là là thuyết về cấu trúc và đặc điểm của thơ, nghiên cứu về nghệ thuật làm thơ, các nguyên lí và kĩ thuật làm thơ. Do vậy họ quan tâm đến: tiết điệu tức âm tiết khi làm thơ, nhịp điệu, vần và hình thức của một khổ thơ. Các học giả Nga xem thi luật nghiên cứu trước hết về các đặc điểm ngữ âm và cách tổ chức ngôn ngữ thơ đặt trong sự phân biệt với văn xuôi.
Tóm lại, thi luật dù theo quan niệm của trường phái nào cũng phải quan tâm đến: nguyên âm, phụ âm, âm tiết, trọng âm, thanh điệu, nhịp điệu, chỗ ngừng và ngữ điệu. Thi luật không nghiên cứu các hiện tượng này rời rạc mà chúng phải được kết nối, tập hợp, ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau trong sáng tạo và cảm thụ thi ca. Khái niệm ngôn ngữ thơ 1. Ngôn ngữ thơ là gì? Thơ là một thể loại của văn học nghệ thuật.