MỞ ĐẦU Bão và áp thấp nhiệt đới (gọi chung là Xoáy thuận nhiệt đới- XTNĐ) là hiện tƣợng thiên tai nguy hiểm kèm theo đó là gió mạnh, mƣa lớn, sóng cao và nƣớc biển dâng. Năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng ban hành Quyết định số 2901/QĐ-BTNMT ngày 16/12/2016 về việc công bố kết quả cập nhật phân vùng bão, xác định nguy cơ bão, nƣớc dâng do bão và phân vùng gió cho các vùng ở sâu trong đất liền khi bão mạnh siêu bão đổ bộ. Trong đó nêu rõ, khu vực Nam Bộ nằm trong phân vùng VIII (Bình Thuận đến Cà Mau) bao gồm các tỉnh Nam Bộ và các tỉnh ven biển từ Bình Thuận đến Cà Mau-Kiên Giang; đã có 23 cơn bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) ảnh hƣởng trong thời kỳ 1961-2014. Trung bình có dƣới 0,5 cơn/năm, ba tháng nhiều bão nhất là các tháng 10 - 11 - 12.
Lƣợng mƣa một ngày lớn nhất đã xảy ra 273 mm. Tổng lƣợng mƣa trung bình một đợt bão đã xảy ra 50 - 100 mm. Cấp gió bão mạnh nhất đã xảy ra cấp 10, giật cấp 12 – 13. Trong tƣơng lai, gió trong bão ở khu vực này có thể đạt cấp 11 - 12, giật trên cấp 13.
Mƣa một ngày lớn nhất có thể đạt từ 300 - 350 mm. Đối với các đảo ven bờ nhƣ Phú Quý, Côn Đảo nguy cơ cấp gió bão và gió giật trong bão mạnh nhất có thể cao hơn trong đất liền từ 1 - 2 cấp. Nam Bộ nằm trong vùng đặc trƣng của khí hậu nhiệt đới gió mùa và cận xích đạo, khí hậu hình thành trên hai mùa chủ yếu quanh năm là mùa khô và mùa mƣa. Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4.
Lƣợng mƣa mùa mƣa đóng góp trên 70 - 80% tổng lƣợng mƣa trong suốt cả năm. Trong nhiều nguyên nhân gây mƣa cho khu vực Nam Bộ thì mƣa do bão hoặc trong thời gian bão hoạt động (do hoàn lƣu bão kết hợp với các hoàn lƣu khác) cũng đóng góp đáng kể vào đặc điểm phân bố và hệ quả mƣa lớn gây ra cho khu vực Nam Bộ. Với những lý do trên, học viên đã lựa chọn thực hiện đề tài nghiên cứu “Đặc điểm mƣa khu vực Nam Bộ khi có ảnh hƣởng của xoáy thuận nhiệt đới” ix z CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ BÃO, MƢA BÃOVÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Đặc điểm hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới ảnh hƣởng đến Việt Nam Hàng năm nƣớc ta thƣờng xuyên chịu tác động mạnh của thiên tai có liên quan đến Khí tƣợngThủy văn trong đó có bão và áp thấp nhiệt đới (gọi là XTNĐ). Theo thống kê, trong 10 năm từ 1997 đến 2006 thiên tai đã làm chết, mất tích gần 7500 ngƣời, thiệt hại ƣớc tính chiếm khoảng 1,5% GDP. Nhờ có sự nỗ lực rất lớn từ nhà nƣớc và nhân dân, hệ thống cơ sở hạ tầng để phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đã đƣợc xây dựng, hoàn thiện và vận hành tƣơng đối đồng bộ trên các vùng miền đã đem lại hiệu quả rất thiết thực trong việc phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Tuy vậy, trƣớc những tác động của biến đổi khí hậu, các thiên tai có nguồn gốc Khí tƣợng Thủy văn có thể diễn biến với quy mô và cƣờng độ phức tạp hơn trƣớc làm trầm trọng thêm mức độ ảnh hƣởng, gây thiệt hại về kinh tế xã hội, ảnh hƣởng đến an ninh quốc phòng và phát triển bền vững.
XTNĐ là hiện tƣợng thiên tai cực kỳ nguy hiểm, thƣờng gắn liền với gió mạnh, mƣa lớn, lũ lụt, sóng cao, nƣớc biển dâng nên gây ra thiệt hại to lớn về ngƣời và tài sản. Theo đánh giá của các tổ chức quản lý thiên tai trên thế giới, XTNĐ là loại thiên tai đƣợc xếp vào hàng thứ hai sau lũ lụt. Phân bố mƣa ở Nam Bộ trong các trƣờng hợp khác nhau khi bão đổ bộ hoặc ảnh hƣởng trực tiếp đến cũng lại rất khác nhau tùy thuộc vào khu vực đổ bộ, cấu trúc xoáy thuận nhiệt đới cũng nhƣ các điều kiện kết hợp với các hình thế thời tiết khác nhau. Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng năm 2016, trong tƣơng lai sẽ có nhiều cơn bão có cƣờng độ mạnh đổ bộ vào khu vực Nam Bộ do ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu.
Do vậy một nghiên cứu có tính hệ thống về ảnh hƣởng của bão đến khu vực Nam Bộ, đặc biệt là hệ quả mƣa lớn, gió mạnh là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu có thể cung cấp thông tin quan trọng cho ngƣời dân, 1 z chính quyền địa phƣơng xây dựng các kịch bản, phƣơng án phòng chống khi có ảnh hƣởng của bão. Theo Nguyễn Đức Ngữ (2010), Bão, ATNĐ ảnh hƣởng đến Việt Nam là những cơn bão, ATNĐ có tác động làm thay đổi hoàn toàn hiện tƣợng thời tiết (gió, mây, mƣa) trên một khu vực hoặc nhiều khu vực thuộc lãnh thổ nƣớc ta. Căn cứ vào tốc độ gió đo đƣợc và hiện tƣợng thời tiết đặc trƣng chủ yếu là mƣa lớn để xác định mức độ ảnh hƣởng.
Có thể chia làm hai loại: ảnh hƣởng trực tiếp và ảnh hƣởng gián tiếp: Ảnh hưởng trực tiếp: Những cơn bão, ATNĐ ảnh hƣởng trực tiếp đến nƣớc ta là những cơn bão, ATNĐ gây gió mạnh từ cấp 6 trở lên cho một hay nhiều khu vực đất liền (bao gồm vùng ven biển) thuộc lãnh thổ nƣớc ta. Nhƣ vậy khái niệm ảnh hƣởng trực tiếp chƣa đề cập đến các khu vực đảo ở quá xa đất liền, các quần đảo Trƣờng Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền nƣớc ta. Nhƣ vậy, bão, ATNĐ ảnh hƣởng trực tiếp đến nƣớc ta bao gồm: + Các cơn bão, ATNĐ đổ bộ vào đất liền. Bão, ATNĐ đổ bộ khi tâm bão (hay mắt bão), tâm ATNĐ đi vào đất liền hoặc các cơn bão khi đi vào vùng biển ven bờ suy yếu thành ATNĐ rồi đổ bộ vào đất liền gây gió mạnh từ cấp 6 trở lên.
Khu vực đổ bộ là khu vực mà tâm bão, ATNĐ đi qua. + Các cơn bão, ATNĐ tuy không đổ bộ vào đất liền nƣớc ta nhƣng gây gió mạnh từ cấp 6 trở lên ở một hay nhiều khu vực thuộc lãnh thổ nƣớc ta. Ảnh hưởng gián tiếp: Những cơn bão, ATNĐ ảnh hƣởng gián tiếp đến nƣớc ta là những cơn bão, ATNĐ chỉ gây gió mạnh dƣới cấp 6 nhƣng làm thay đổi thời tiết, đặc biệt gây mƣa diện rộng trên một hay nhiều khu vực thuộc lãnh thổ nƣớc ta. Nhƣ vậy, bão, ATNĐ ảnh hƣởng gián tiếp đến nƣớc ta bao gồm: + Những cơn bão, ATNĐ suy yếu thành vùng thấp trƣớc khi đổ bộ vào đất liền gây gió mạnh dƣới cấp 6 nhƣng gây mƣa diện rộng.
+ Những cơn bão, ATNĐ không đổ bộ vào nƣớc ta nhƣng đã gây mƣa diện rộng ở một hay nhiều khu vực thuộc lãnh thổ nƣớc ta. 2 z Theo Quyết định số 46/2014/QĐ-TTg ngày 15 tháng 8 năm 2014 của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai, XTNĐ đƣợc phân chia nhƣ sau: - Áp thấp nhiệt đới là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất từ cấp 6 đến cấp 7 và có thể có gió giật; - Bão là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất từ cấp 8 trở lên và có thể có gió giật. Bão có sức gió mạnh nhất từ cấp 10 đến cấp 11 gọi là bão mạnh, từ cấp 12 đến cấp 15 gọi là bão rất mạnh, từ cấp 16 trở lên gọi là siêu bão (Error! Reference source not found. Bảng cấp gió và cấp sóng (Theo Quyết định số 46/2014/QĐ-TTg ngày 15/8/2014) Độ cao sóng Cấp gió Tốc độ gió trung bình Mức độ nguy hại Bô-pho m/s km/h m 0 0-0.
2 1,6-3,3 6-11 0,2 - Không gây nguy hại. 3 3,4-5,4 12-19 0,6 - Cây nhỏ có lá bắt đầu lay động. 4 5,5-7,9 20-28 1,0 ảnh hƣởng đến lúa đang phơi màu 5 8,0-10,7 29-38 2,0 - Biển hơi động. Thuyền đánh cá bị chao nghiêng, phải cuốn bớt buồm.
- Cây cối rung chuyển. Khó đi 6 10,8-13,8 39-49 3,0 ngƣợc gió. Nguy hiểm đối với tàu, thuyền. - Gió làm gãy cành cây, tốc mái nhà gây thiệt hại về nhà cửa.
Không thể 8 17,2-20,7 62-74 5,5 đi ngƣợc gió. 9 20,8-24,4 75-88 7,0 - Biển động rất mạnh. Rất nguy hiểm đối với tàu, thuyền. - Làm đổ cây cối, nhà cửa, cột điện.
10 24,5-28,4 89-102 9,0 Gây thiệt hại rất nặng. 11 28,5-32,6 103-117 11,5 - Biển động dữ dội. Làm đắm tàu 3 z Độ cao sóng Cấp gió Tốc độ gió trung bình Mức độ nguy hại Bô-pho m/s km/h m biển. 12 32,7-36,9 118-133 13 37,0-41,4 134-149 - Sức phá hoại cực kỳ lớn.
14 41,5-46,1 150-166 14,0 - Sóng biển cực kỳ mạnh. Đánh đắm 15 46,2-50,9 167-183 tàu biển có trọng tải lớn. 16 51,0-56,0 184-201 17 56,1-61,2 202-220 Tố c đô ̣ gió ma ̣nh nhấ t vùng g ần trung tâm (tố c đô ̣ gió cƣ̣c đa ̣i ) đƣợc quy định khác nhau ở mỗi nƣớc. Ở Việt Nam, tố c đô ̣ gió ma ̣nh nhấ t đƣơ ̣c lấy trong 2 phút.
Quy chế báo bão , ATNĐ, lũ của Việt Nam dùng thuật ngữ "gió mạnh nhất" và "có thể có gió giật", đó là gió mạnh nhất khi quan trắc theo quy phạm quan trắc bề mặt. Bão, ATNĐ ảnh hƣởng đến Việt Nam có nguồn gốc từ biển Thái Bình Dƣơng hoặc phát sinh ngay trên Biển Đông. Hoạt động và ảnh hƣởng của bão và ATNĐ đến nƣớc ta tập trung chủ yếu vào các tháng 6 đến tháng 11. Thời kỳ nửa đầu mùa, quỹ đạo XTNĐ có hƣớng Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc, và thƣờng đổ bộ vào Đông Nam Trung Quốc, Nhật Bản.
Thời kỳ sau quỹ đạo XTNĐ thiên hƣớng Tây về phía Việt Nam. Năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng tổng hợp các kết quả của những nghiên cứu đã thực hiện, đƣa ra tài liệu bƣớc đầu công bố “Phân vùng bão và xác định nguy cơ bão, nƣớc dâng do bão cho khu vực ven biển Việt Nam” (ban hành kèm theo Quyết định số 1857/QĐ-BTNMT ngày 29 tháng 8 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng). Theo đó khu vực ven biển Việt Nam đƣợc chia thành 5 vùng ảnh hƣởng của bão dựa trên các tiêu chí: Mùa bão, các tháng nhiều bão nhất trong Năm; tần số bão trong năm; tình hình mƣa do bão. Trong tạp chí Kinh tế & Môi trƣờng (Giấy phép xuất bản số 13/GP-XBĐS ngày 02/04/2009), GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ đã đăng bài báo có tên “Phân vùng ảnh hƣởng bão của Việt Nam”.
Theo đó, trên lãnh thổ Việt Nam tác giả phân thành 4 z 3 vùng khác nhau về mùa bão, tần số bão và 10 tiểu vùng khác nhau về gió bão và mƣa bão.