Luận văn thạc sĩ nhận xét đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm pivka ii ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tại bệnh viện bạch mai

Luận văn thạc sĩ phân tích đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm PIVKA II ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Bạch Mai.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Tác giả

Hoàng Thị Nhàn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2018

67
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA UNG THƢ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN

1.2. CHẨN ĐOÁN UNG THƢ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN

1.2.1. Triệu chứng lâm sàng

1.2.2. Xét nghiệm PIVKA-II

1.3. ĐIỀU TRỊ UNG THƢ GAN NGUYÊN PHÁT

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Nội dung nghiên cứu

2.2.3. Phƣơng pháp tiến hành

2.2.4. Xử lý và phân tích số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

3.1.1. Đặc điểm tuổi, giới

3.1.2. Các yếu tố nguy cơ

3.1.3. Triệu chứng lâm sàng

3.1.4. Phân loại giai đoạn

3.1.5. Đặc điểm khối u

3.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA XÉT NGHIỆM PIVKA-II

3.2.1. Phân bố nồng độ PIVKA-II

3.2.2. Tƣơng quan giữa nồng độ PIVKA-II, AFP với kích thƣớc khối u

3.2.3. Tƣơng quan giữa nồng độ PIVKA-II, AFP với số lƣợng khối u

3.2.4. Tƣơng quan giữa nồng độ PIVKA-II, AFP với giai đoạn bệnh theo Barcelona

3.2.5. Mối tƣơng quan giữa nồng độ PIVKA-II, AFP với sự có mặt của huyết khối tĩnh mạch

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

4.1.1. Tuổi và giới

4.1.2. Các yếu tố nguy cơ

4.1.3. Triệu chứng lâm sàng

4.1.4. Phân loại giai đoạn

4.1.5. Đặc điểm khối u

4.2. ĐẶC ĐIỂM XÉT NGHIỆM PIVKA-II

4.2.1. Phân bố nồng độ PIVKA-II

4.2.2. Tƣơng quan giữa nồng độ PIVKA-II, AFP với kích thƣớc khối u

4.2.3. Tƣơng quan giữa nồng độ PIVKA-II, AFP với số lƣợng khối u

4.2.4. Tƣơng quan giữa nồng độ PIVKA-II, AFP với giai đoạn Barcelona

4.2.5. Tƣơng quan giữa nồng độ PIVKA-II, AFP với huyết khối tĩnh mạch

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc điểm lâm sàng ung thư biểu mô tế bào gan

Ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMG) là một trong những loại ung thư phổ biến nhất trên thế giới. Theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh này đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Đặc điểm lâm sàng của UTBMG thường không rõ ràng trong giai đoạn đầu, dẫn đến việc chẩn đoán muộn. Các triệu chứng như mệt mỏi, chán ăn, và đau hạ sườn phải thường xuất hiện khi bệnh đã tiến triển. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này có thể giúp cải thiện kết quả điều trị.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học của ung thư biểu mô tế bào gan

Theo GLOBOCAN 2012, UTBMG đứng thứ 5 trong số các loại ung thư ở nam giới và thứ 9 ở nữ giới. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh này cũng đang gia tăng, với khoảng 11,691 ca mới mỗi năm. Các yếu tố nguy cơ như viêm gan B, viêm gan C, và xơ gan đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh.

1.2. Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân ung thư gan

Triệu chứng lâm sàng của UTBMG thường không rõ ràng. Giai đoạn khởi phát có thể chỉ có các triệu chứng nhẹ như mệt mỏi, chán ăn. Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng như đau hạ sườn phải, gầy sút cân nhanh chóng, và rối loạn tiêu hóa sẽ xuất hiện. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có thể can thiệp kịp thời.

II. Thách thức trong chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan

Chẩn đoán UTBMG gặp nhiều thách thức do triệu chứng không điển hình và sự chồng chéo với các bệnh lý gan khác. Nồng độ AFP (Alpha Fetoprotein) thường được sử dụng nhưng không đủ nhạy và đặc hiệu. Hơn 40% bệnh nhân có nồng độ AFP bình thường, đặc biệt là trong giai đoạn sớm của bệnh. Do đó, cần thiết phải tìm kiếm các marker sinh học mới để cải thiện độ chính xác trong chẩn đoán.

2.1. Hạn chế của xét nghiệm AFP trong chẩn đoán

Mặc dù AFP là một marker phổ biến, nhưng nồng độ của nó có thể bình thường ở nhiều bệnh nhân UTBMG. Điều này dẫn đến việc chẩn đoán muộn và ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Cần có các phương pháp bổ sung để nâng cao độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán.

2.2. Nhu cầu về các marker sinh học mới

Xét nghiệm PIVKA-II (Prothrombin Induced by Vitamin K Absence II) đã được chứng minh là một marker tiềm năng trong chẩn đoán UTBMG. Nghiên cứu cho thấy PIVKA-II có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với AFP, đặc biệt trong các trường hợp bệnh nhân có nồng độ AFP bình thường.

III. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm PIVKA II

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Bạch Mai với mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng và mối liên quan giữa nồng độ PIVKA-II và các yếu tố khác ở bệnh nhân UTBMG. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu từ bệnh nhân, thực hiện các xét nghiệm cần thiết và phân tích số liệu để đưa ra kết luận.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang, bao gồm các bệnh nhân được chẩn đoán UTBMG tại Bệnh viện Bạch Mai. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và các xét nghiệm lâm sàng.

3.2. Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu thu thập được phân tích bằng phần mềm thống kê để xác định mối liên quan giữa nồng độ PIVKA-II và các yếu tố lâm sàng như kích thước khối u, giai đoạn bệnh và sự có mặt của huyết khối.

IV. Kết quả nghiên cứu về xét nghiệm PIVKA II ở bệnh nhân ung thư gan

Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ PIVKA-II có mối liên quan chặt chẽ với kích thước khối u và giai đoạn bệnh. Nồng độ PIVKA-II cao hơn ở những bệnh nhân có khối u lớn và giai đoạn bệnh tiến triển. Điều này cho thấy PIVKA-II có thể là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá mức độ nặng của bệnh.

4.1. Mối liên quan giữa PIVKA II và kích thước khối u

Nghiên cứu cho thấy nồng độ PIVKA-II tăng lên theo kích thước khối u. Bệnh nhân có khối u lớn hơn 5 cm có nồng độ PIVKA-II cao hơn đáng kể so với những bệnh nhân có khối u nhỏ hơn.

4.2. Tương quan giữa PIVKA II và giai đoạn bệnh

Nồng độ PIVKA-II cũng có mối liên quan với giai đoạn bệnh theo phân loại Barcelona. Bệnh nhân ở giai đoạn tiến triển có nồng độ PIVKA-II cao hơn, cho thấy vai trò của nó trong việc đánh giá mức độ nặng của bệnh.

V. Kết luận và triển vọng trong chẩn đoán ung thư gan

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng xét nghiệm PIVKA-II có thể là một công cụ hữu ích trong chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân UTBMG. Việc sử dụng PIVKA-II kết hợp với các phương pháp chẩn đoán khác có thể cải thiện độ chính xác trong việc phát hiện bệnh sớm và theo dõi tiến triển của bệnh.

5.1. Tầm quan trọng của PIVKA II trong chẩn đoán

PIVKA-II thể hiện độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn so với AFP, đặc biệt trong các trường hợp bệnh nhân có nồng độ AFP bình thường. Điều này cho thấy PIVKA-II có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm UTBMG.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ hơn vai trò của PIVKA-II trong chẩn đoán và điều trị UTBMG. Các nghiên cứu lâm sàng lớn hơn có thể giúp khẳng định giá trị của PIVKA-II như một marker sinh học trong ung thư gan.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ nhận xét đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm pivka ii ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan tại bệnh viện bạch mai

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thƣ biểu mô tế bào gan là một dạng của ung thƣ gan nguyên phát, nguồn gốc đƣợc hình thành và phát triển từ tế bào gan. Theo GLOBOCAN năm 2012, trên thế giới ƣớc tính có khoảng 782.000 trƣờng hợp ung thƣ gan mới mắc và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2. Tại Việt Nam, ung thƣ biểu mô tế bào gan là loại bệnh ung thƣ phổ biến, ghi nhận tại ung thƣ Hà Nội giai đoạn 2001-2010 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi ở nam là 23,6/100.000 dân, đứng hàng thứ 3; ở nữ là 6,3/100.000 dân, đứng hàng thứ 8 [6]. Hầu hết bệnh nhân ung thƣ biểu mô tế bào gan đƣợc chẩn đoán ở giai đoạn muộn, tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong tƣơng đƣơng nhau.

Việc sàng lọc phát hiện bệnh sớm, xử trí kịp thời là cần thiết nhằm cải thiện chất lƣợng sống, kéo dài thời gian sống thêm cho ngƣời bệnh [56]. Trong những năm vừa qua Bộ Y tế đã ban hành Hƣớng dẫn chẩn đoán ung thƣ biểu mô tế bào gan với hình ảnh khối u điển hình trên phƣơng diện chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hƣởng từ), có tiền sử viêm gan và nồng độ AFP>400 ng/ml. Tuy nhiên trên 40% bệnh nhân ung thƣ gan có nồng độ AFP trong giới hạn bình thƣờng, phần lớn giai đoạn sớm của bệnh nồng độ AFP không phản ánh rõ độ nhạy, độ đặc hiệu [48]. Hơn nữa, nồng độ AFP cao có thể thấy trong các bệnh nhân xơ gan hoặc viêm gan mạn tính [115].

Vì vậy cần bổ sung một số marker sinh học trong ung thƣ biểu mô tế bào gan với độ nhạy, độ đặc hiệu có giá trị giúp chẩn đoán chính xác hơn. Xét nghiệm PIVKA-II là định lƣợng dấu ấn sinh học có ý nghĩa thực tiễn trong chẩn đoán ung thƣ biểu mô tế bào gan. PIVKA-II hay des-gamma- carboxy prothrombin (DCP) là prothrombin bất thƣờng tạo ra do thiếu hụt nhóm carboxy ở vị trí gamma trong 10 phân tử acid glutamic nằm ở phía đầu amin của prothrombin, nó làm giảm khả năng gắn kết với ion Ca2+ của prothrombin và đảo lộn quá trình đông máu bình thƣờng. Vai trò của PIVKA- II đƣợc Libmen HA và cộng sự lần đầu tiên công bố năm 1984 [75].

1 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Bệnh viện Bạch Mai và nhiều bệnh viện lớn trên cả nƣớc đã tiến hành triển khai thƣờng quy xét nghiệm PIVKA-II trên mẫu huyết thanh cho bệnh nhân và những ngƣời có nguy cơ cao mắc ung thƣ biểu mô tế bào gan đã mang lại giá trị cao trong chẩn đoán. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa một nghiên cứu nào phân tích chi tiết về đặc điểm của xét nghiệm PIVKA-II ở bệnh nhân ung thƣ biểu mô tế bào gan. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nhận xét đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm PIVKA-II ở bệnh nhân ung thƣ biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Bạch Mai” với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai.

Nhận xét mối liên quan giữa nồng độ PIVKA-II của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai với một số yếu tố. 2 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN 1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA UNG THƢ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN. Đặc điểm dịch tễ.

Trên thế giới. Theo Globocan 2012, mỗi năm có khoảng 782.000 ca mới mắc, 83% trong số đó thuộc về các nƣớc đang phát triển (50% ở Trung Quốc), theo ƣớc tính có khoảng 746.000 ngƣời tử vong do ung thƣ biểu mô tế bào gan (UTBMG). Tỷ lệ mắc UTBMG đứng hàng thứ 5 ở nam (554.000 ca, chiếm 7,5% tổng số ca ung thƣ) và đứng hàng thứ 9 ở nữ (228.000 ca, chiếm 3,4% tổng số ca ung thƣ). Ở nam, các vùng có tỷ lệ mắc cao là Đông Á và Đông Nam Á, tỷ lệ trung bình ở Nam Âu và Bắc Mỹ, tỷ lệ thấp ở Bắc Âu và Trung Nam Á.

Ở nữ, nơi có tỷ lệ mắc cao nhất là Đông Á và Tây Phi, thấp nhất ở Bắc Âu và Micronesia. UTBMG là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong liên quan đến ung thƣ trên toàn thế giới, ƣớc tính gần 746.000 ngƣời chết vào năm 2012 (chiếm 9,1% tổng số ngƣời chết do ung thƣ) và phân bố theo vùng địa lý của tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong là nhƣ nhau [66]. Tại Việt Nam. UTBMG đứng vị trí thứ 3 về tỷ lệ mắc ở nam, đứng thứ 8 ở nữ giới, tỷ lệ mắc ở nam và nữ tƣơng ứng là 23,6 và 6,3/100.

Mỗi năm có khoảng 11,691 ca mới mắc, ƣớc tính đến năm 2020 con số này là 14. Theo ghi nhận tại Hà Nội, tỷ lệ mắc mới ở nam là 19,8/100.000 dân xếp thứ 3, nữ là 4,8/100.000 dân đứng hàng thứ 8 [1]. Ở thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ mắc ung thƣ gan chuẩn theo tuổi ở nam và nữ lần lƣợt là 25,3 và 5,9/100. Một số yếu tố nguy cơ.

UTBMG là một bệnh lý phức tạp có liên quan với nhiều yếu tố nguy cơ. Phần lớn các trƣờng hợp phát triển trên nền gan xơ, do vậy xơ gan đƣợc coi là 3 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yếu tố nguy cơ quan trọng nhất để hình thành UTBMG. Khoảng 5-30% bệnh nhân xơ gan phát triển thành UTBMG sau 5 năm [102, 38]. Quá trình xơ gan thúc đẩy sự tái tạo của tế bào gan.

Trong quá trình tái tạo này có những thay đổi về gen và có sự hoạt hóa các gen gây ung thƣ, bất hoạt các gen sửa chữa hoặc gen kìm hãm ung thƣ. Các hiện tƣợng này dẫn đến sự tăng tổng hợp ADN và sắp xếp lại cấu trúc ADN, làm tăng nguy cơ chuyển dạng ác tính của tế bào gan [2]. Tuy nhiên UTBMG cũng có thể phát sinh trực tiếp dƣới tác động của các yếu tố nguy cơ mà không trải qua giai đoạn xơ gan. Virus viêm gan B (HBV).

Khoảng 50% các trƣờng hợp UTBMG trên thế giới liên quan đến viêm gan B mạn tính [55, 100]. Chen và cộng sự đã chứng minh rằng nguy cơ phát triển UTBMG tƣơng ứng với mức độ HBV DNA [44]. Mặc dù HBV có thể gây ung thƣ gan mà không có mặt của xơ gan nhƣng phần lớn (70-80%) bệnh nhân UTBMG liên quan đến HBV có xơ gan. Nguy cơ bị UTBMG ở những ngƣời nhiễm HBV tăng lên nếu họ là nam hoặc lớn tuổi, đã bị nhiễm trong thời gian dài, có tiền sử gia đình bị UTBMG, bị phơi nhiễm với Aflatoxin, đã sử dụng rƣợu hoặc thuốc lá, đồng nhiễm với virus viêm gan C (HCV) hoặc virus viêm gan D (HDV), có nồng độ HBV DNA cao, hoặc bị nhiễm HBV genotype C [108].

HBV DNA có thể đƣợc tìm thấy ở những ngƣời có HBsAg âm tính nhƣng mối liên quan với UTBMG trong trƣờng hợp này chƣa đƣợc làm sáng tỏ. Virus viêm gan C. Nhiễm HCV gây ra quá trình viêm mạn tính mà hậu quả là sự xơ hóa, đó là tiền đề của UTBMG. Nhiễm HCV còn liên quan đến quá trình sinh ung thƣ thông qua các cơ chế đặc biệt làm đột biến nhiễm sắc thể và cuối cùng là chuyển dạng ác tính của tế bào gan tái sinh.

Nguy cơ bị UTBMG tăng lên 15- 20 lần ở những ngƣời bị nhiễm HCV, hầu hết các trƣờng hợp có xơ gan [49]. Tỷ lệ xơ gan sau 20-30 năm nhiễm HCV từ 15-35%. Các marker của nhiễm HCV đƣợc tìm thấy 80-90% bệnh nhân UTBMG ở Nhật Bản [109], 44-66% ở Italy [63]. 4 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Uống nhiều rƣợu (trên 50-70 g/ngày) trong thời gian dài dẫn đến các bệnh gan do rƣợu bao gồm gan nhiễm mỡ và xơ gan [60].

Nghiện rƣợu góp phần gây ung thƣ gan do gây rối loạn chuyển hóa nhƣ hình thành acetaldehyde, giảm các chất chống oxi hóa, nhiễm sắt và giảm acid retinoic [91]. Rƣợu cũng ảnh hƣởng đến các tế bào miễn dịch của gan nhƣ hoạt hóa tế bào Kuffer [92], tích tụ tế bào iNKT [47], thâm nhiễm bạch cầu trung tính [77], ức chế hoạt động của tế bào NK [40]. Hơn nữa nghiện rƣợu cũng gây ra thay đổi các cytokine của gan nhƣ IL-1β, IL-6, IL-10, TNFα và IL-22 [22, 25]. Mức độ biểu hiện cao của cytokine trên trong các bệnh nhân đã thúc đẩy hình thành UTBMG [68].

AFB1 là một độc tố đƣợc tạo ra bởi nấm Aspergillus, loại nấm này phát triển rất nhanh trong lƣơng thực, thực phẩm: ngô, sắn, đậu, gạo, chuối…khi bảo quản trong môi trƣờng nóng ẩm. AFB1 là tác nhân gây đột biến và sinh ung thƣ. Phơi nhiễm Aflatoxin với nồng độ cao gây viêm gan cấp tính, phơi nhiễm mạn tính gây ra sự phát triển của UTBMG. Khi ăn phải thức ăn có chứa AFB1, AFB1 bị chuyển hóa thành một chất trung gian hoạt động là AFB1-exo-8,9-epoxide, gắn với ADN gây đột biến gen kháng ung thƣ p53 (trong điều kiện bình thƣờng gây chết tế bào theo chƣơng trình) [101].

Những ngƣời bị nhiễm cả AFB1 và HBV tăng gấp 60 lần nguy cơ bị UTBMG [97]. Đái tháo đường, béo phì, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu. Bệnh gan nhiễm mỡ không do rƣợu đƣợc cho là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng của UTBMG. Quá trình bệnh lý tiến triển từ nhiễm mỡ gan đến viêm gan nhiễm mỡ và cuối cùng dẫn đến xơ gan và UTBMG trên nền gan xơ.

Béo phì, đặc biệt béo bụng, kháng insulin góp phần đáng kể gây ra bệnh gan nhiễm mỡ [85]. Nguy cơ phát triển UTBMG tăng từ 1,13 lần ở những ngƣời có BMI 25-29,9 kg/m2 đến 4,52 lần ở những ngƣời có BMI 35- 39,9 kg/m2 [42]. Đái tháo đƣờng cũng là yếu tố nguy cơ của bệnh gan mạn tính và UTBMG [53]. Ở nƣớc ta hiện nay, các bệnh chuyển hóa đang ngày càng gia tăng, đặc biệt đái tháo đƣờng typ II.

Bệnh gan nhiễm mỡ không do 5 VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rƣợu cũng đƣợc đề cập ngày càng nhiều. Tuy nhiên chƣa có nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa UTBMG với các tình trạng bệnh lý này. CHẨN ĐOÁN UNG THƢ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN. Triệu chứng lâm sàng.

Triệu chứng cơ năng. Bệnh diễn biến âm thầm không có triệu chứng, nhiều khi phát hiện do tình cờ siêu âm, khám sức khỏe định kì [17].  Giai đoạn khởi phát: rất ít triệu chứng điển hình, có thể gặp: - Mệt mỏi, chán ăn, đầy bụng, khó tiêu. - Cảm giác nặng nề, đau âm ỉ hạ sƣờn phải, gầy sút 1-2 kg.

- Đôi khi sốt nhẹ, đau khớp xƣơng nhƣng không sƣng.  Giai đoạn toàn phát: Các triệu chứng thƣờng gặp bao gồm: - Kém ăn, đầy bụng, chƣớng hơi, mệt mỏi nhiều.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ