Đặt vấn đề Rừng ngập mặn (RNM) là loại rừng phân bố ở vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi có thủy triều ra vào hàng ngày. Việt Nam có điện tích đất liền khoảng 331.698 km2, từ 8°10’ tới 23°24’ vĩ Bắc, bờ biển dai 3.260 km, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm là 27°C ở miền Nam, 21°C ở miền Bắc; lượng mưa trung bình 2.000 mm/năm với các hệ thống sông lớn: sông Hồng, sông Đồng Nai - Vàm Cỏ, sông Cửu Long đã hình thành nên thảm thực vật RNM ven biến xanh tốt từ Quảng Ninh đến Hà Tiên (Phạm Văn Ngọt, 2012). Rừng ngập mặn là một hệ sinh thái rừng có vai trò quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của loài người, là môi trường sinh thái va nguồn sinh kế của các cộng đồng sông gần rừng. Bên cạnh những giá trị kinh tế trực tiếp mà rừng đem lại như gỗ và lâm sản ngoai gỗ thì rừng ngập mặn còn có giá trị sinh thái như là môi trường sống của nhiều loài thủy sinh, cung cấp một lượng lớn nguồn lợi thủy sản nước mặn, có vai trò chắn sóng, chắn gió giúp bảo vệ bờ biển, bảo vệ dat liền, nhà cửa, đất canh tác, hạn chế xâm mặn.
Tuy nhiên, do nhận thức về rừng nhìn chung chưa đầy đủ và toàn diện, chưa đánh giá đúng các giá trị dịch vụ môi trường của rừng đem lại cho xã hội, chính vì thế hệ sinh thái rừng ngập mặn không được quản ly, bao vệ và phát triển theo đúng vị thé và vai trò của nó, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, rừng bi suy giảm cả về số lượng và chất lượng (Trần Ngọc Diệp, 2010). Vai trò và tầm quan trọng của hệ sinh thái rừng ngập mặn đã được thảo luận rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Rừng ngập mặn là hệ sinh thái tự nhiên đặc trưng và đóng vai trò rất quan trọng cả về yếu tố kinh tế lẫn sinh thái cảnh quan và yếu tố môi trường ở các vùng đất ngập nước ven biển của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Phan Nguyên Hồng và cs, 1999). Tại Việt Nam, RNM được xem là loại tải nguyên có giá trị cao, cung cấp nhiều dịch vụ hệ sinh thái quan trọng như lưu trữ các bon, cung cấp gỗ củi, môi trường sống cho nhiều loài sinh vật biển, giúp duy trì ồn định bờ biển và kiểm soát xói lở bờ biển.
Tuy vậy, điện tích RNM bị suy giảm mạnh theo thời gian từ 408.290ha (2000) và đến năm 2020 theo quyết định số 2860/QD-BNN- TCTLN có diện tích rừng ngập mặn là 239. Sau 60 năm, từ năm 1943 đến 2003, RNM của Việt Nam đã giảm 4/5 diện tích và từ 2003 đến nay đang được phục hồi lại. Diện tích rừng ngập mặn giảm mạnh như vậy do một số nguyên nhân chính sau: Phong trào nuôi tôm, các dự án phát triển các khu công nghiệp và đô thị ven biển là một trong các nguyên nhân chính gây suy giảm diện tích RNM, nhất là từ năm 1985 đến nay. Những năm gần đây, tình hình biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long diễn ra rất phức tạp, đặc biệt là các tỉnh ven biển.
Tỉnh Kiên Giang là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng trực tiếp của xâm nhập mặn, với chiều đài ven biển là trên 200 km bờ biển. Riêng khu vực huyện Hòn Đất có chiều dai bờ biển là 49 km, diện tích rừng phòng hộ ven biển khoảng 2.100 ha với những loài cây rừng phổ biến như: Đước, Mam, Vet, Tra, Ban, Giá. Rừng phòng hộ ven biển nơi đây do tác động của dòng chảy từ các kênh xả lũ ra biển Tây tạo ra những bãi bồi, bãi lỡ khác nhau. Trên các bãi bồi các loài cây phát triển rất tốt và tạo ra những dải rừng với chiều dày trên 1.
Ngược lại với khu vực xói lỡ thì đai rừng bị thu hẹp dần. Ngoài ra, độ ngập của nước có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng phát triển của các loài cây rừng ven bién. Trong công tác quản lý rừng, việc nắm bắt những đặc trưng lâm học của rừng là vấn đề quan trọng và rất cần thiết, nó là cơ sở dữ liệu quan trọng trong cập nhật diễn biến rừng và là căn cứ để có được những kế hoạch, biện pháp lâm sinh phù hợp nhằm định hướng bảo vệ và phát triển rừng. Do đó, trong khuôn khổ một khóa luận bậc đại học va mong muôn được đóng góp một phân nhỏ dữ liệu vao công tác năm bắt thông tin phục vụ cho quản lý rừng tại khu vực nghiên cứu, được sự đồng ý và hướng dẫn của TS.
Phan Minh Xuân, tác giả tiễn hành thực hiện đề tài nghiên cứu: Đặc điểm lâm học rừng gỗ tự nhiên ngập mặn nghèo thuộc rừng phòng hộ ven biển ở xã Bình Sơn, huyện Hòn Dat, tinh Kiên Giang.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Xác định những đặc điểm lâm học của rừng go tự nhiên ngập mặn nghèo ở khu vực xã Bình Sơn, huyện Hòn Dat, tỉnh Kiên Giang nhằm làm cơ sở phục vụ cho quản lý rừng ở khu vực nghiên cứu.2 Mục tiêu cụ thể - Xác định những đặc điểm của rừng ngập mặn nghèo thông qua thành phần loài cây gỗ, kết cấu loài, cau trúc rừng và tình trạng tái sinh rừng. - Phân tích đa dạng loài cây gỗ tại khu vực nghiên cứu.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những diện tích rừng gỗ tự nhiên ngập mặn nghèo ở khu vực xã Bình Sơn, huyện Hòn Đắt, tỉnh Kiên Giang. Rừng nghèo ở khu vực nghiên cứu được xác định theo Thông tư 33/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, rừng nghèo là rừng có trữ lượng từ 50 đến 100 m/ha. - Đối tượng đo đếm và thu thập dit liệu chỉ là thực vật thuộc nhóm loài cây gỗ, dé tài không nghiên cứu các dạng sống khác.
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 4 đến thang 8 năm 2023. Chương 2 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Vấn đề nghiên cứu Các nhà khoa học lâm nghiệp trong và ngoài nước đã có nhiều những nghiên cứu cơ bản dé tìm ra rất nhiều nhân tổ nhằm đánh giá đặc điểm thành phan loài cây, kết cầu loài, cấu trúc của quan thụ cũng như đặc điểm tái sinh của rừng làm nền tảng cho các nghiên cứu sau này. Và dé góp phần vào nghiên cứu về rừng ngập mặn noi chung và rừng ngập mặn nghèo nói riêng, đề tài này tập trung vào nghiên cứu về rừng ngập mặn nghèo xã Bình Sơn huyện Hòn Đất tỉnh Kiên giang và vấn đề nghiên cứu của đề tài là xác định những đặc điểm của rừng ngập mặn nghèo thông qua thành phan loài cây gỗ, kết cấu loài, cau trúc rừng và tinh trạng tái sinh tại khu vực nghiên cứu. Sau đây là một sé nghiên cứu về cấu trúc rừng, đặc điểm tái sinh, đa dạng loài và một số nghiên cứu khác về rừng ngập mặn của các nhà khoa học trong va ngoải nước.1 Cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp theo tổ hợp của các thành phan cấu tạo nên quần thê thực vật rừng theo không gian và thời gian.
Nhân tố này mang ý nghĩa quan trọng không thể thiếu trong công tác đánh giá đặc điểm của rừng, nó có ảnh hưởng to lớn đến quá trình cạnh tranh, hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành phần thực vật và sự tác động qua lại giữa chúng trong hệ sinh thái rừng. Trải qua nhiều thập kỷ nghiên cứu đã tạo nên một hệ thống mô tả cấu trúc rừng với các phương pháp khác nhau bằng các chỉ tiêu khác nhau (Nguyễn Văn Thêm, 2002). Cấu trúc t6 thành là nhân tố quan trọng diễn tả số loài tham gia và số cá thé của từng loài trong thành phần cây gỗ của rừng. Mặt khác, tổ thành cho biết sự tô hợp và mức độ tham gia của các loài cây gỗ khác nhau trên cùng đơn vị diện tích.
Cấu trúc mật độ phản ánh số cây trên một đơn vị diện tích. Phản ánh mức độ tác động giữa các cá thé trong lâm phần. Mật độ ảnh hưởng đến tiêu hoàn cảnh rừng. Khả năng sản xuất của rừng.
Độ tàn che thể hiện mức độ che phủ của tán cây rừng trong lâm phần. Phân bố số cây theo các chỉ tiêu sinh trưởng thé hiện qua biểu đồ và hàm toán học phan bố mật độ cây rừng theo các chỉ tiêu đó. Mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính thé hiện bằng biểu đồ và ham toán học biểu thị quy định kích thước đường kính ứng với cấp chiều cao tương ứng, kết quả cho biết tình hình sinh trưởng và phát triển của rừng hiện tại cũng như xu hướng trong tương lai.2 Đặc điểm tái sinh Theo Nguyễn Văn Thêm (2002), tái sinh rừng được hiểu là quá trình phục hồi các thành phan cơ bản của rừng gồm cây gỗ với các thành phần khác của lâm phan. Hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ.
tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố.3 Đa dạng loài Da dang tang cây gỗ được quan tâm và nghiên cứu về đa dang sinh học, đặc biệt là đa dạng thực vật, đầu tiên phải ké đến công trình nghiên cứu “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Van Trừng (1999). Tác giả đã tổng kết và công bố công trình nghiên cứu của mình với 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 189 họ ở Việt Nam. Ông đã nhấn mạnh sự ưu thé của ngành thực vật hạt kín (Angiospermae) trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài chiếm 90,9%, 1727 chỉ chiếm 93,5% và 239 họ chiếm 82,7% trong tổng số taxon mỗi bậc. Đến năm 1985, Phạm Hoàng Hộ đã xuất bản “Danh lục thực vật Phú Quốc” và công bố 793 loài thực vật có mạch trên điện tích 592 km”.
Đặc biệt có 3 quyền “Cây cỏ Việt Nam” (1991 — 1993) của tác giả đã mô tả 10.500 loài thực vật có mạch, đó là công trình đầy đủ có hình vẽ kèm theo về toàn bộ hệ thực vật rừng Việt Nam (1985). Xác định các nhân tố đa dạng sinh học nói chung và đa dạng loài cây g6 nói riêng có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ và sử dụng tính đa dạng một cách bền vững lâu dài (Đoàn Nhật Xinh, 2021). Võ Văn Chi (2003 — 2004) đã xuất ban “Từ điển thực vật thông dụng” có 2 tập: tập I (1.252 trang) và tập II (2.