Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái đặc thù phân bố tại các vùng cửa sông và ven biển nhiệt đới, cận nhiệt đới chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều hàng ngày. Tại Việt Nam, hệ thống bờ biển dài 3.260 km cùng các mạng lưới sông ngòi lớn (sông Hồng, sông Đồng Nai - Vàm Cỏ, sông Cửu Long) đã tạo điều kiện hình thành các dải rừng ngập mặn ven biển trải dài từ Quảng Ninh đến Hà Tiên. Hệ sinh thái này giữ vai trò bảo vệ bờ biển, ngăn chặn xói lở, hạn chế xâm nhập mặn, chắn sóng gió, cố định carbon và duy trì nguồn lợi thủy sinh sản cho cộng đồng dân cư địa phương. Tuy nhiên, dưới áp lực chuyển đổi mục đích sử dụng đất để nuôi tôm, phát triển công nghiệp và đô thị hóa ven biển từ năm 1985 trở lại đây, diện tích rừng ngập mặn Việt Nam đã suy giảm nghiêm trọng (từ 408.290 ha năm 2000 xuống còn 239.500 ha vào năm 2020 theo Quyết định số 2860/QĐ-BNN-TCLN).
Tỉnh Kiên Giang có chiều dài bờ biển trên 200 km, trong đó khu vực huyện Hòn Đất sở hữu 49 km bờ biển với khoảng 2.100 ha rừng phòng hộ ven biển. Dưới tác động dòng chảy từ các kênh xả lũ ra biển Tây, thảm thực vật rừng tại đây hình thành các dải bãi bồi và bãi lở đan xen. Để phục vụ công tác quản lý và định hướng các giải pháp lâm sinh phục hồi rừng phòng hộ ven biển, việc thu thập dữ liệu về đặc trưng lâm học của các trạng thái rừng tự nhiên là yêu cầu cấp thiết. Đề tài "Đặc điểm lâm học rừng gỗ tự nhiên ngập mặn nghèo thuộc rừng phòng hộ ven biển xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang" được thực hiện bởi sinh viên Trần Phước Tới dưới sự hướng dẫn của TS. Phan Minh Xuân tại Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:
- Mục tiêu chung: Xác định các đặc điểm lâm học của rừng gỗ tự nhiên ngập mặn nghèo tại khu vực xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nhằm làm cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý rừng tại khu vực nghiên cứu.
- Mục tiêu cụ thể:
- (1) Xác định các đặc điểm của rừng ngập mặn nghèo thông qua thành phần loài cây gỗ, kết cấu loài, cấu trúc lâm phần và tình trạng tái sinh rừng dưới tán.
- (2) Phân tích định lượng mức độ đa dạng loài cây gỗ tại khu vực nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Trạng thái rừng gỗ tự nhiên ngập mặn nghèo, được xác định theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (trạng thái rừng gỗ có trữ lượng bình quân từ 50 m³/ha đến 100 m³/ha). Đối tượng đo đếm và thu thập số liệu thực địa giới hạn ở nhóm thực vật thân gỗ, không nghiên cứu các dạng sống khác (dây leo, cỏ dại, thực vật bì sinh).
- Phạm vi không gian: Rừng phòng hộ ven biển thuộc địa bàn xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện điều tra và thu thập số liệu từ tháng 4/2023 đến tháng 8/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận và căn cứ pháp lý của khóa luận dựa trên hệ thống phân loại trạng thái rừng theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT, lý thuyết cấu trúc và tái sinh rừng nhiệt đới của Nguyễn Văn Thêm (2002), phương pháp xác định tổ thành loài theo chỉ số giá trị quan trọng (IV%) của Thái Văn Trừng (1999), cùng các công trình nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn Nam Bộ của Phan Nguyên Hồng (1991, 1999) và Đặng Văn Sơn cùng cộng sự (2013).
Khu vực nghiên cứu mang đặc trưng khí hậu - thủy văn vùng Tứ Giác Long Xuyên: nhiệt độ trung bình năm 27°C - 27,5°C; độ ẩm 76% - 88%; lượng mưa trung bình 2.000 - 2.200 mm/năm (85% tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11). Chế độ ngập nước thay đổi theo mùa (mùa lũ ngập sâu 1,0 - 1,5 m); chế độ thủy triều biển Tây mang tính chất nhật triều hoặc nhật triều không đều với biên độ triều trung bình 1,3 m. Nền đất thuộc nhóm đất mặn ven biển, phân hóa thành các loại đất mặn thường xuyên, đất mặn nhiều, đất mặn trung bình và mặn ít.
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu bao gồm:
- Thiết kế ô tiêu chuẩn (OTC): Lập 10 OTC điển hình tạm thời mang tính đại diện, diện tích mỗi OTC là 200 m² (kích thước 10 m x 20 m), tổng diện tích điều tra tầng cây cao là 2.000 m². Trong mỗi OTC, bố trí 4 ô dạng bản (ODB) có diện tích 4 m² (kích thước 2 m x 2 m) tại 4 góc để điều tra cây tái sinh, tổng cộng có 40 ODB (tổng diện tích 160 m²).
- Điều tra tầng cây gỗ lớn: Định danh tên loài; đo chu vi thân cây tại vị trí 1,3 m bằng thước dây cho các cây có đường kính $D_{1,3} \ge 8\text{ cm}$ để tính đường kính $D_{1,3} = C / 3{,}14$; đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) bằng sào đo cao kết hợp mục trắc; phân cấp phẩm chất cây theo 3 cấp A (tốt), B (trung bình), C (xấu).
- Điều tra tầng cây tái sinh: Định danh loài cây tái sinh; đếm số lượng; phân 4 cấp chiều cao ($H < 1\text{ m}$; $1\text{ m} \le H < 2\text{ m}$; $2\text{ m} \le H < 3\text{ m}$; $H \ge 3\text{ m}$); xác định nguồn gốc tái sinh (hạt hoặc chồi); đánh giá phẩm chất (A, B, C).
- Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu:
- Tính toán tổ thành theo chỉ số quan trọng: $IV% = (N_i% + G_i% + V_i%) / 3$, với $N_i%$ là tỷ lệ số cây, $G_i%$ là tỷ lệ tiết diện ngang, $V_i%$ là tỷ lệ thể tích ($V = G \times H_{vn} \times f$ với hệ số hình $f = 0{,}45$).
- Tính toán mật độ ($N/\text{ha}$), tổng tiết diện ngang ($G/\text{ha}$), trữ lượng ($M/\text{ha}$), độ hỗn giao loài ($K = S / N$).
- Phân tích thống kê mô tả phân bố thực nghiệm số cây theo cấp đường kính ($N/D$) và cấp chiều cao ($N/H$) qua công thức ghép tổ của Brooks ($m = 3{,}3 \log(N) + 1$), xác định trị trung bình ($\bar{X}$), phương sai ($S^2$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến động ($C_v%$), độ nhọn ($E_k$), độ lệch ($S_k$).
- Mô hình hóa quy luật tương quan $H/D$ bằng phần mềm Statgraphics Centurion XV dựa trên việc so sánh hệ số xác định ($R^2$), sai số chuẩn ($SEE$), tổng bình phương độ lệch ($SSR$) và mức ý nghĩa ($P$).
- Đánh giá đa dạng sinh học bằng phần mềm Excel và PRIMER 6: Chỉ số phong phú Margalef ($d$), chỉ số tương đồng Pielou ($J'$), chỉ số đa dạng Shannon - Wiener ($H'$), chỉ số ưu thế Simpson ($D$ hay $\lambda'$), chỉ số biến động môi trường Caswell ($V$), chỉ số hiếm của Guarino và Napolitano ($RI%$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Mở đầu
Chương mở đầu trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu đối với hệ sinh thái rừng phòng hộ ngập mặn tại Kiên Giang. Tác giả xác lập rõ 2 mục tiêu cụ thể, xác định đối tượng nghiên cứu là tầng cây gỗ của trạng thái rừng ngập mặn tự nhiên nghèo (trữ lượng 50 - 100 m³/ha theo Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT) tại xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến tháng 8/2023.
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2 tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về cấu trúc, động thái tái sinh và đa dạng sinh học rừng ngập mặn. Văn bản trích dẫn số liệu báo cáo của FAO (2022) về biến động diện tích rừng ngập mặn toàn cầu giai đoạn 1980 - 2022 (giảm từ 18,8 triệu ha xuống 14,7 triệu ha), các nghiên cứu của Mohammad Ali Zahed (2010), Hema Gupta & Ghose (2014) tại Ấn Độ, Perera (2013) tại Sri Lanka. Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp các kết quả phân vùng và phân loại của Phan Nguyên Hồng (1991), Đặng Văn Sơn (2013), Viên Ngọc Nam (2005, 2016) tại Cần Giờ, cùng các nghiên cứu biến động diện tích rừng ngập mặn tại Kiên Giang của Phùng Thái Dương (2020) và Bùi Thanh Liêm (2019). Đồng thời, chương này mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, địa hình đất đai và chế độ thủy văn của huyện Hòn Đất.
Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình ngoại nghiệp và nội nghiệp. Tác giả mô tả phương pháp bố trí 10 OTC ($200\text{ m}^2/\text{OTC}$) và 40 ODB ($4\text{ m}^2/\text{ODB}$), các biểu mẫu ghi chép số liệu đo đếm cây gỗ lớn ($D_{1,3} \ge 8\text{ cm}$) và cây tái sinh, cùng toàn bộ hệ thống công thức toán học, thuật toán thống kê mô tả, phương pháp hồi quy tương quan và các chỉ số định lượng đa dạng sinh học sử dụng trong nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 cung cấp toàn bộ các kết quả định lượng về lâm học của trạng thái rừng ngập mặn nghèo tại khu vực nghiên cứu:
- Danh lục thực vật: Ghi nhận 6 loài cây gỗ thuộc 4 họ thực vật. Họ Đước (Rhizophoraceae) và họ Tếch (Verbenaceae) chiếm ưu thế với 2 loài/họ, lần lượt chiếm 60,6% (530 cây/ha) và 33,7% (295 cây/ha) tổng số cá thể. Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 1 loài (40 cây/ha, chiếm 4,6%) và họ Bần (Sonneratiaceae) có 1 loài (10 cây/ha, chiếm 1,1%).
| STT |
Tên loài |
Tên khoa học |
Họ Việt Nam |
Họ khoa học |
Mật độ ($N/\text{ha}$) |
Tỷ lệ số cây ($N%$) |
| 1 |
Bần chua |
Sonneratia caseolaris (L.) Engl. |
Bần |
Sonneratiaceae |
10 |
1,1 |
| 2 |
Đước đôi |
Rhizophora apiculata BL. |
Đước |
Rhizophoraceae |
495 |
56,6 |
| 3 |
Giá |
Excoecaria agallocha L. |
Thầu dầu |
Euphorbiaceae |
40 |
4,6 |
| 4 |
Mắm đen |
Avicennia officinalis L. |
Tếch |
Verbenaceae |
25 |
2,9 |
| 5 |
Mắm trắng |
Avicennia marina Vierh. |
Tếch |
Verbenaceae |
270 |
30,9 |
| 6 |
Vẹt tách |
Bruguiera parviflora W. |
Đước |
Rhizophoraceae |
35 |
4,0 |
| Tổng |
|
|
|
|
875 |
100,0 |
- Kết cấu loài và trữ lượng lâm phần: Mật độ lâm phần bình quân đạt 875 cây/ha (dao động 600 - 1.250 cây/ha giữa các OTC), tổng tiết diện ngang bình quân đạt 15,3 m²/ha (dao động 10,4 - 21,1 m²/ha) và trữ lượng bình quân đạt 77,2 m³/ha (dao động 51,2 - 99,0 m³/ha). Tổ thành loài được xác định qua công thức: $IV% = 46{,}7%\text{ Đước đôi} + 39{,}5%\text{ Mắm trắng} + 5{,}0%\text{ Giá} + 4{,}0%\text{ Vẹt tách} + 3{,}5%\text{ Mắm đen} + 1{,}3%\text{ Bần chua}$. Ba loài ưu thế và đồng ưu thế (Đước đôi, Mắm trắng, Giá) chiếm 91,1% tổng trị số quan trọng $IV%$.
| Loài cây |
Mật độ ($N/\text{ha}$) |
Tiết diện ngang ($G$, $\text{m}^2/\text{ha}$) |
Trữ lượng ($V$, $\text{m}^3/\text{ha}$) |
$N%$ |
$G%$ |
$V%$ |
$IV%$ |
| Đước đôi |
495 |
6,4 |
32,2 |
56,6 |
41,7 |
41,7 |
46,7 |
| Mắm trắng |
270 |
6,8 |
33,3 |
30,9 |
44,5 |
43,2 |
39,5 |
| Giá |
40 |
0,7 |
4,3 |
4,6 |
4,8 |
5,6 |
5,0 |
| Vẹt tách |
35 |
0,6 |
2,9 |
4,0 |
4,1 |
3,8 |
4,0 |
| Mắm đen |
25 |
0,5 |
3,2 |
2,9 |
3,6 |
4,2 |
3,5 |
| Bần chua |
10 |
0,2 |
1,2 |
1,1 |
1,3 |
1,6 |
1,3 |
| Tổng cộng |
875 |
15,3 |
77,2 |
100,0 |
100,0 |
100,0 |
100,0 |
- Kết cấu theo nhóm đường kính và lớp chiều cao:
- Nhóm đường kính: Nhóm $D < 15\text{ cm}$ chiếm ưu thế về số lượng cá thể (545 cây/ha, tương ứng 62,2% mật độ), nhưng nhóm $D \ge 15\text{ cm}$ lại chiếm ưu thế về tiết diện ngang (9,0 m²/ha, chiếm 58,5%) và trữ lượng (46,2 m³/ha, chiếm 59,8%).
- Lớp chiều cao: Số lượng cá thể tập trung chủ yếu ở lớp $H \ge 10\text{ m}$ (570 cây/ha, chiếm 65,1% mật độ; tiết diện ngang 11,3 m²/ha, chiếm 73,9%; trữ lượng 61,9 m³/ha, chiếm 80,3%).
- Cấu trúc lâm phần:
- Phân bố $N/D$: Đường kính bình quân đạt 14,4 cm, sai số chuẩn 0,3 cm, độ lệch chuẩn 4,06 cm, phương sai 16,5, hệ số biến động $C_v = 28{,}3%$, biên độ biến động 23,1 cm. Đường cong phân bố có dạng lệch trái ($S_k = 0{,}9$) và nhọn đỉnh ($E_k = 1{,}6$).
- Phân bố $N/H$: Chiều cao bình quân đạt 10,8 m, sai số chuẩn 0,2 m, độ lệch chuẩn 2,43 m, phương sai 5,9, hệ số biến động $C_v = 22{,}4%$, biên độ 12,5 m. Đường cong phân bố có dạng hơi bẹt ($E_k = -0{,}2$), hơi lệch phải ($S_k = -0{,}1$), phân bố gần như đối xứng quanh trị trung bình.
- Tương quan $H/D$: Mô hình nghịch đảo biểu thị mối quan hệ chặt chẽ giữa chiều cao và đường kính.
- Độ hỗn giao loài: Chỉ số $K = 0{,}15$, phản ánh mức độ hỗn giao thấp. Đa số cá thể tầng cây cao có phẩm chất khá tốt (cấp A và B chiếm ưu thế).
- Đặc điểm tái sinh dưới tán: Ghi nhận 5 loài cây tái sinh thuộc 4 họ thực vật. Mật độ cây tái sinh đạt 10.500 cây/ha. Cây tái sinh diễn ra liên tục qua các cấp chiều cao. Nguồn gốc tái sinh chủ yếu từ hạt (86,3%), chồi chỉ chiếm 13,7%. Tỷ lệ cây tái sinh có phẩm chất tốt và trung bình (loại A và B) đạt 91,6%.
- Đa dạng loài cây gỗ: Đa dạng loài ở mức thấp với các chỉ số bình quân: Margalef ($d = 0{,}55$), Pielou ($J' = 0{,}51$), Shannon - Wiener ($H' = 0{,}54$), Simpson ($D = 0{,}68$). Chỉ số hiếm ($RI%$) ghi nhận 2 loài thuộc nhóm hiếm tại khu vực nghiên cứu là Bần chua (Sonneratia caseolaris) và Vẹt tách (Bruguiera parviflora).
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Chương 5 tóm tắt các phát hiện lâm học chính của đề tài và đưa ra các khuyến nghị kỹ thuật quản lý lâm sinh nhằm bảo tồn diện tích rừng nghèo, xúc tiến tái sinh tự nhiên và bảo vệ dải rừng phòng hộ ven biển Hòn Đất.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã lượng hóa chi tiết các thông số cấu trúc lâm học của trạng thái rừng gỗ tự nhiên ngập mặn nghèo tại xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang:
- Xác định thành phần gồm 6 loài cây gỗ thuộc 4 họ, trong đó hình thành ưu hợp rõ rệt gồm 3 loài: Đước đôi ($IV% = 46{,}7%$), Mắm trắng ($IV% = 39{,}5%$) và Giá ($IV% = 5{,}0%$), chiếm tổng cộng 91,1% độ ưu thế của lâm phần.
- Xác định các chỉ tiêu định lượng trung bình của trạng thái rừng nghèo: Mật độ cá thể đạt 875 cây/ha, tổng tiết diện ngang đạt 15,3 m²/ha, trữ lượng đạt 77,2 m³/ha (nằm trong khung phân loại 50 - 100 m³/ha của Thông tư 33/2018/TT-BNNPTNT).
- Làm rõ quy luật phân bố lâm phần: Đường kính bình quân $\bar{D} = 14{,}4\text{ cm}$ (phân bố lệch trái $S_k = 0{,}9$), chiều cao bình quân $\bar{H} = 10{,}8\text{ m}$ (phân bố cân xứng $S_k = -0{,}1$), tương quan $H/D$ tuân theo dạng hàm nghịch đảo, độ hỗn giao loài thấp ($K = 0{,}15$).
- Đánh giá tiềm năng phục hồi tự nhiên: Mật độ tái sinh đạt mức cao (10.500 cây/ha), trong đó 86,3% có nguồn gốc từ hạt và 91,6% cá thể đạt phẩm chất tốt và trung bình (cấp A, B), phản ánh khả năng tự tái sinh và kế thừa tầng tán tốt dưới tán rừng nghèo.
- Chỉ ra tính đa dạng sinh học thực vật thân gỗ ở mức thấp ($H' = 0{,}54$, $d = 0{,}55$, $J' = 0{,}51$) và phát hiện 2 loài có phân bố hiếm trong lâm phần là Bần chua và Vẹt tách.
Về mặt đóng góp, đề tài cung cấp bộ dữ liệu thực địa sơ cấp cập nhật năm 2023 về cấu trúc và tái sinh rừng ngập mặn tại Kiên Giang, bổ sung nguồn cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ theo dõi diễn biến rừng phòng hộ ven biển Tây Nam Bộ. Tác giả đề xuất các giải pháp kỹ thuật: khoanh nuôi bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi cho tầng cây tái sinh hạt phát triển thành tầng cây cao, kiểm soát chặt chẽ các tác động xâm hại và có biện pháp bảo tồn cục bộ đối với 2 loài cây hiếm (Sonneratia caseolaris và Bruguiera parviflora).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực địa:
- Giới hạn đối tượng điều tra: Đề tài chỉ tập trung đo đếm các loài thực vật thuộc nhóm thân gỗ ($D_{1,3} \ge 8\text{ cm}$ và cây tái sinh thân gỗ), chưa khảo sát định lượng các thành phần thực vật phụ sinh, dây leo, thảm tươi, cũng như các yếu tố sinh vật đáy và động vật rừng ngập mặn.
- Giới hạn dung lượng mẫu và thời gian: Nghiên cứu thực hiện trên 10 OTC ($2.000\text{ m}^2$) tại một xã (Bình Sơn) trong thời gian từ tháng 4/2023 đến tháng 8/2023, chưa phản ánh đầy đủ biến động lâm học theo mùa lũ - mùa khô qua nhiều năm trên toàn bộ tuyến đai rừng phòng hộ ven biển huyện Hòn Đất.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định dựa trên phạm vi đề tài: Cần mở rộng quy mô điều tra trên toàn tuyến bờ biển 49 km của huyện Hòn Đất, thiết lập các ô định vị cố định để theo dõi động thái tăng trưởng đường kính, chiều cao và quy luật đào thải tự nhiên của cây tái sinh qua các năm, đồng thời kết hợp nghiên cứu diễn biến xói lở - bồi tụ nền đất tác động đến sinh trưởng rừng ngập mặn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn phù hợp cho:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Khoa học môi trường và Sinh thái học khi thực hiện các chuyên đề nghiên cứu về cấu trúc rừng ngập mặn, phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn và xử lý số liệu thống kê lâm học.
- Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Kiên Giang, Chi cục Kiểm lâm và các cơ quan quản lý tài nguyên địa phương trong việc xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và thiết kế các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho trạng thái rừng tự nhiên nghèo.
Các phần có giá trị tham khảo cao gồm: Phương pháp luận điều tra kết hợp OTC và ODB; quy trình tính toán hệ số tổ thành $IV%$; phương pháp phân tích thống kê cấu trúc $N/D$, $N/H$ và mô hình hóa quan hệ $H/D$; cùng hệ thống số liệu định lượng về mật độ tái sinh tự nhiên dưới tán rừng ngập mặn.
Câu hỏi thường gặp
1. Trạng thái rừng nghèo trong khóa luận được xác định dựa trên tiêu chuẩn nào?
Trạng thái rừng nghèo được xác định căn cứ theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, áp dụng cho rừng tự nhiên có trữ lượng gỗ bình quân dao động từ 50 m³/ha đến 100 m³/ha. Kết quả đo đếm thực tế của đề tài ghi nhận trữ lượng bình quân là 77,2 m³/ha, hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn quy định.
2. Thành phần loài cây gỗ chiếm ưu thế tại khu vực nghiên cứu gồm những loài nào?
Lâm phần ghi nhận 6 loài cây gỗ, trong đó có 3 loài tham gia vào công thức tổ thành ưu thế gồm: Đước đôi (Rhizophora apiculata) với $IV% = 46{,}7%$, Mắm trắng (Avicennia marina) với $IV% = 39{,}5%$ và Giá (Excoecaria agallocha) với $IV% = 5{,}0%$. Ba loài này chiếm 91,1% tổng độ ưu thế của quần xã.
3. Tầng cây tái sinh dưới tán rừng ngập mặn nghèo có đặc điểm gì nổi bật?
Tầng cây tái sinh có mật độ rất cao, đạt 10.500 cây/ha với 5 loài thuộc 4 họ. Quá trình tái sinh diễn ra liên tục qua các cấp chiều cao; nguồn gốc cá thể chủ yếu hình thành từ hạt (chiếm 86,3%) và phần lớn cây tái sinh có phẩm chất tốt và trung bình (cấp A và B chiếm 91,6%).
4. Mối quan hệ giữa chiều cao ($H$) và đường kính ($D$) của lâm phần tuân theo dạng mô hình toán học nào?
Qua kiểm định thống kê và so sánh giữa 5 hàm thực nghiệm trên phần mềm Statgraphics Centurion XV, mối quan hệ giữa chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và đường kính thân cây ($D_{1,3}$) tại khu vực nghiên cứu được mô tả phù hợp nhất qua mô hình hàm nghịch đảo.
5. Những loài cây gỗ nào được xếp vào nhóm loài hiếm tại khu vực nghiên cứu?
Căn cứ theo thang phân loại chỉ số hiếm $RI%$ của Guarino và Napolitano (2006), nghiên cứu đã xác định được 2 loài thực vật thân gỗ thuộc nhóm hiếm tại khu vực điều tra là Bần chua (Sonneratia caseolaris) và Vẹt tách (Bruguiera parviflora).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trần Phước Tới đã phản ánh toàn diện các đặc trưng lâm học của trạng thái rừng gỗ tự nhiên ngập mặn nghèo tại xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang thông qua hệ thống phương pháp điều tra tiêu chuẩn và công cụ thống kê toán học. Kết quả nghiên cứu chứng minh lâm phần có mật độ trung bình 875 cây/ha, trữ lượng 77,2 m³/ha, cấu trúc bị chi phối mạnh bởi hai loài ưu thế là Đước đôi và Mắm trắng, cùng mức độ đa dạng sinh học thân gỗ thấp. Mặc dù tầng cây cao mang đặc trưng của rừng nghèo, mật độ tái sinh tự nhiên đạt mức 10.500 cây/ha với 86,3% nguồn gốc từ hạt cho thấy tiềm năng tự phục hồi mạnh mẽ của hệ sinh thái nếu được khoanh nuôi và bảo vệ nghiêm ngặt.