ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng Việt Nam phong phú và đa dạng là nơi sinh tồn của hàng trăm, hàng ngàn loài động, thực vật, nhƣng một thực trạng đáng buồn là trong những năm gần đây dƣới áp lực của kinh tế và bùng nổ dân số lên nguồn tài nguyên rừng làm những cây gỗ cây thuốc có giá trị bị thƣơng mại hóa, do đó chúng đang bị khai thác ngày một cạn kiệt. Làm rừng không những suy thoái cả về số lƣợng lẫn chất lƣợng. Bên cạnh đó việc bảo tồn nghiên cứu gây giống cây trồng còn hạn chế, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng cũng là nguy cơ rất lớn ảnh hƣởng đến sự tồn tại và phát triển của các loại cây quý hiếm ở Việt Nam [1]. Để khắc phục tình trạng suy thoái rừng, trong những năm qua nhà nƣớc ta đã có hàng loạt biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng, nhƣ các văn bản luật các biện pháp chính sách khoanh nuôi bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên, gây trồng rừng.
Trong các biện pháp đó thì trồng rừng và làm giàu rừng bằng cây bản địa đang đƣợc phổ biến trên toàn quốc. Rừng phòng hộ huyện Con Cuông trƣớc đây là một trong những khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao. Tuy nhiên trong những năm gần đây tình trạng khai thác và sử dụng tài nguyên không bền vững làm số lƣợng các loài bị suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là các loài quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng nhƣ: Sến, Trai lý, Gù hƣơng, Re hƣơng, các loài Táu,. trong đó có loài Lát hoa đang phân bố rất hẹp tại khu vực rừng phòng hộ [2].
Lát hoa (danh pháp khoa học: Chukrasia tabularis A.) là một loài thực vật có hoa thuộc chi Lát (Chukrasia), họ Xoan (Meliaceae) loài cây này không chỉ có ý nghĩa về khoa học mà còn có giá trị kinh tế rất cao, gỗ Lát hoa có vân đẹp, lõi không bị mối mọt, thƣờng đƣợc sử dụng đóng đồ gia dụng, xây dựng nhà cửa. Chính vì có giá trị cao nên Lát hoa là một loài bị khai thác mạnh, gây suy giảm mạnh về số lƣợng. Ngày nay nếu chúng ta không có những tác động, biện pháp bảo vệ tích cực thì trong tƣơng lai gần 1 loài sẽ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải nghiên cứu để bảo tồn loài.
Từ những vấn đề cấp thiết nêu trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Lát hoa (Chukrasia tabularis A.) tại Rừng phòng hộ huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An và đề xuất giải pháp bảo tồn phát triển loài”. Ngoài mục tiêu là khóa luận tốt nghiệp, đề tài còn cung cấp thêm những thông tin khoa học về loài Lát hoa ở khu vực rừng phòng hộ huyện Con Cuông, góp phần hiểu biết sâu hơn về loài cây này để làm cơ sở cho các các pháp bảo vệ và phát triển loài này tại khu vực. 2 PHẦN 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1.
Nghiên cứu về sinh thái học thực vật Sinh thái học thực vật là môn khoa học rộng nhất so với tất cả khoa học sinh vật và nó cũng là khoa học phát triển nhất, bao trùm, tổng hợp nhất. Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu về sự phân bố và sinh sống của những sinh vật sống và các tác động qua lại giữa các sinh vật và môi trƣờng sống của chúng. Các chủ đề mà các nhà sinh thái học quan tâm nhƣ đa dạng sinh học, phân bố, giá trị (sinh khối), số lƣợng (quần thể) của các sinh vật, cũng nhƣ sự cạnh tranh giữa chúng bên trong và giữa các hệ sinh thái. Môi trƣờng sống của một sinh vật hàm chứa: Tổng hòa các nhân tố vật lý nhƣ khí hậu và địa lý đƣợc gọi là ổ sinh thái và các sinh vật khác sinh sống trong cùng ổ sinh thái.
Các hệ sinh thái thƣờng đƣợc nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau từ cá thể và các quần thể cho đến các hệ sinh thái và sinh quyển. Sinh thái học là môn khoa học đa ngành, nghĩa là dựa trên nhiều ngành khoa học khác nhau [3]. Thuật ngữ sinh thái học (Ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm hai phần, là "oikos" chỉ nơi sinh sống và "logos" là học thuyết. Nhƣ vậy sinh thái học là học thuyết về nơi sinh sống của sinh vật, là môn học về quan hệ tƣơng hỗ sinh vật và môi sinh.
Vào những năm cuối thế kỷ 20, ngƣời ta định nghĩa đối tƣợng của sinh thái học là tất cả các mối liên hệ giữa cơ thể sinh vật sống với môi trƣờng để có một định nghĩa theo cách khác, nhƣ Sinh thái học là sinh học môi sinh (Environmental Biology) [4]. Nhƣ vậy, hiểu theo nghĩa hẹp thì sinh thái học là khoa học về nơi ở. Phát triển rộng hơn thì thấy đây là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật, có thể là một nhóm hay nhiều nhóm sinh vật với môi trƣờng xung quanh. 3 Các phƣơng pháp thực nghiệm và sinh thái học nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, phƣơng pháp điều tra đánh giá đã đƣợc trinh bày trong “Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen, D.P Odum (1975) đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể.
Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng các thể sinh vật học hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống và tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng cũng đƣợc đặc biệt chú ý. Ngoài ra mỗi quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trƣởng có thể định lƣợng bằng các phƣơng pháp toán học thƣờng đƣợc gọi là mô phỏng, phản ánh các đặc điểm, quy luật tƣơng quan phức tạp trong tự nhiên [6]. Trong học thuyết các kiểu rừng G.F Morodop đã hình thành lý luận cơ bản về sinh thái rừng và các kiểu rừng: “Đời sống của rừng có thể đƣợc hiểu trong mối quan hệ với điều kiện hoàn cảnh và trong đó quần xã thực vật rừng tồn tại và quần xã này luôn chịu tác động trực tiếp của các nhân tố sinh thái trong hoàn cảnh đó”. Ông cho rằng điều kiện tiên quyết, quyết định hình thành rừng là đặc điểm sinh thái học của loài cây gỗ [7].
Trong Lâm nghiệp nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về sinh thái rừng làm cơ sở đề xuất các biện pháp tác động hợp lý và xây dựng thành hệ thống kỹ thuật lâm sinh. Một số công trình tiêu biểu nhƣ: Rừng mƣa nhiệt đới – Baur (1974). Trên cơ sở nghiên cứu sinh thía rừng mƣa, Geoge N. Baur đã tổng kết các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng và phân loại các biện pháp theo mục đích nhằm đem lại rừng căn bản đều tuổi, không đều tuổi, các phƣơng pháp xử lý cả thiện [8].
Các nghiên cứu về loài Lát hoa Nhà khoa học đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về cây Lát hoa là M. mô tả khoa học năm 1830. Theo tác giả, loài Lát hoa (Chukrasia tabularis A.) là cây ƣa sáng sống lâu, giai đoạn non ƣa bóng, sinh trƣởng nhanh tới 5 tuổi, từ tuổi thứ 6 trở đi sinh trƣởng trung bình tới chậm. Phân bổ tự nhiên ở rừng hỗn giao lá rộng thƣờng xanh hoặc rụng lá, cũng thƣờng rải rác ở thảm thực vật thƣa thớt.
Độ cao phân bổ từ 300 – 1600 m núi đất tới núi đá vôi, là loài cây có kích thƣớc thuộc loại cây gỗ trung bình, cao tới 25m, thân cây thẳng, gốc có bạnh vè lớn, cành rậm, vỏ thân màu nâu nhạt rạn nứt dọc. Cành non có màu đỏ nâu với lớp lông mịn. Lá kép lông chim một lần chẵn mọc cách, lá có kích thƣớc 30–50 cm. Cuống chính (từ đầu cuống đến lá chét đầu tiên) của lá hình trụ, dài 4,5–7 cm.
Mỗi lá chính có 10-16 lá chét, cuống lá chét dài từ 4-8mm, lá chét hình trứng hoặc mũi mác thuôn dài (giai đoạn cây non đôi khi là xẻ thùy), đầu lá chét nhọn đôi khi là có mũi nhọn, đuôi lá chét thƣờng lệch, kích thƣớc lá chét dài 7–12 cm và rộng từ 3–5 cm, hệ gân của lá chét là gân lông chim có từ 10-15 cặp gân phụ, mặt trên lá chét nhẵn, mặt dƣới không hoặc phủ nhẹ lớp lông mịn màu nâu nhạt. Hoa tự hình chùy mọc ở đầu cành. Hoa màu trắng kem, có mùi thơm nhẹ, kích thƣớc hoa 1,2 - 1,5 cm. Quả hình cầu hoặc bầu dục màu xám vàng đến nâu, kích thƣớc từ 3,5–4 cm [9].
Ở Việt Nam Ở Việt Nam, các nghiên cứu về loài Lát hoa đã đƣợc các nhà khoa học công bố rộng rãi. Lát hoa (danh pháp khoa học: Chukrasia tabularis A.) là một loài thực vật có hoa thuộc chi Lát (Chukrasia), họ Xoan (Meliaceae). Khi nghiên cứu về đặc điểm lâm học, Lê Mạnh Hùng (2015) loài Lát hoa (Chukrasia tabularis A.) là cây gỗ ƣa sáng, sống lâu năm, giai đoạn non ƣa bóng. Phân bố tự nhiên ở rừng hỗn giao lá rộng thƣờng xanh 5 hoặc rụng lá, phân bố ở độ cao từ 300 – 1600 m núi đất tới núi đá vôi, là loài cây có kích thƣớc thuộc loại cây gỗ trung bình, cao tới 25m, thân cây thẳng, gốc có bạnh vè lớn, cành rậm, vỏ thân màu nâu nhạt rạn nứt dọc.
Cành non có màu đỏ nâu với lớp lông mịn. Lá kép lông chim một lần chẵn mọc cách, lá có kích thƣớc 30–50 cm, có 10-16 lá chét, lá chét hình trứng hoặc mũi mác thuôn dài, đầu lá chét nhọn đôi khi là có mũi nhọn, đuôi lá chét thƣờng lệch, kích thƣớc lá chét dài 7–12 cm và rộng từ 3–5 cm, hệ gân của lá chét là gân lông chim có từ 10-15 cặp gân phụ, mặt trên lá chét nhẵn, mặt dƣới không hoặc phủ nhẹ lớp lông mịn màu nâu nhạt. Hoa tự hình chùy mọc ở đầu cành. Hoa màu trắng kem, có mùi thơm nhẹ, kích thƣớc hoa 1,2 - 1,5 cm.
Quả hình cầu hoặc bầu dục màu xám vàng đến nâu, kích thƣớc từ 3,5–4 cm. Mùa hoa từ tháng 4 đến tháng 5, mùa quả từ tháng 7 đến tháng 1 năm kế tiếp [10]. Trong báo cáo Nghiên cứu khoa học của tác giả Đoàn Thị Mai, Nguyễn Thị Mỹ Hƣơng,Văn Thu Huyền, Vũ Thị Ngọc, Trần Thanh Hƣơng (2012), “Nhân giống cây Lát hoa bằng phƣơng pháp nuôi cấy mô” Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừngViện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Các tác giả đã xác định đƣợc kỹ thuật khử trùng tạo mẫu sạch thích hợp cho 2 dòng Lát hoa (NA3 và TL3): Sửdụng chất HgCl2 nồng độ 1% khử trùng trong 15 phút với tỷ lệ mẫu sạch là 60,37%-Đã xác định đƣợc môi trƣờng nhân chồi thích hợp cho 2 dòng Lát hoa (NA3 và TL3) là MWP* + 1,0mg/l BAP với tỷ lệ 6,45 - 6,48 chồi/cụm sau 20 ngày.