Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Đặc điểm khoáng hóa sắt khu vực Đông Giang, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận" do sinh viên Nguyễn Vương Hùng thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy Nguyễn Kim Hoàng và kỹ sư Phạm Văn Hường. Đề tài được triển khai dựa trên cơ sở thực tế từ việc Đoàn Địa chất III thuộc Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam phát hiện điểm khoáng hóa sắt trong quá trình thi công Đề án Lập bản đồ Địa chất và Điều tra khoáng sản nhóm tờ Đèo Bảo Lộc tỷ lệ 1:50.000.

Bối cảnh thực tiễn của nghiên cứu xuất phát từ yêu cầu làm sáng tỏ đặc điểm khoáng hóa và triển vọng quặng sắt tại khu vực Đông Giang nhằm định hướng công tác đo vẽ bản đồ địa chất, điều tra khoáng sản, đáp ứng các định hướng khai thác và sử dụng khoáng sản theo Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng sắt giai đoạn 2010–2025 (theo Quyết định số 11/2008/QĐ-BCT của Bộ Công Thương).

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Làm rõ đặc điểm địa chất và thạch học khoáng vật của đá vây quanh khoáng hóa sắt khu vực Đông Giang.
  2. Làm rõ đặc điểm khoáng hóa và nguồn gốc thành tạo khoáng hóa sắt khu vực Đông Giang.
  3. Đánh giá chất lượng và triển vọng kinh tế - địa chất của điểm khoáng hóa sắt.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu đặc điểm địa chất và đặc điểm thạch học – khoáng vật của đá vây quanh thân khoáng để xác định điều kiện thành tạo khoáng hóa sắt.
  2. Nghiên cứu đặc điểm khoáng hóa sắt nhằm xác định kiểu mỏ khoáng, nguồn gốc thành tạo làm cơ sở đánh giá triển vọng tài nguyên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Điểm biểu hiện khoáng hóa sắt dạng mạch thạch anh – magnetit, các thân khoáng hóa và đá vây quanh (granodiorit thuộc phức hệ Định Quán).
  • Phạm vi không gian: Diện tích nghiên cứu rộng khoảng 6 km² thuộc xã Đông Giang, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; nằm trong tờ bản đồ địa hình Dân Cường (tỷ lệ 1:50.000, số hiệu C48-24-D, hệ tọa độ VN-2000). Khu vực cách Ủy ban Nhân dân xã Đông Giang dưới 1 km về phía Nam, cách Tỉnh lộ 6 khoảng 700 m và Quốc lộ 55 khoảng 14,5 km về phía Tây.
  • Phạm vi thời gian và tài liệu: Dữ liệu thực địa và phân tích được thu thập trong quá trình tham gia thi công Đề án đo vẽ nhóm tờ Đèo Bảo Lộc (2014–2015).
Điểm góc tọa độ VN-2000 Tọa độ X (m) Tọa độ Y (m)
Điểm 1 820.000 1.242.000
Điểm 2 823.000 1.242.000
Điểm 3 823.000 1.244.000
Điểm 4 820.000 1.244.000

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh cấu trúc sinh khoáng đới Đà Lạt ở rìa Đông Nam Việt Nam, thuộc đới hút chìm rìa lục địa tích cực kiểu Andes phát triển trong Mesozoi muộn (Jura muộn – Creta). Các khung lý thuyết và văn bản quy chuẩn áp dụng bao gồm:

  • Mô hình magma xâm nhập kiềm vôi thuộc phức hệ Định Quán và phức hệ Đèo Cả;
  • Phân loại kiểu mỏ khoáng nhiệt dịch nội sinh và tổ hợp cộng sinh khoáng vật theo các nghiên cứu sinh khoáng Nam Việt Nam (Nguyễn Xuân Bao và cộng sự, 2000);
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đánh giá chỉ tiêu hàm lượng công nghiệp tối thiểu trong điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 (QCVN 49:2012/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường).

Tác giả đã kết hợp đồng bộ 6 phương pháp nghiên cứu địa chất chuyên ngành:

  1. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu: Kế thừa tài liệu đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1:200.000 tờ Bến Khế – Đồng Nai (Nguyễn Đức Thắng chủ biên, 1986) và tài liệu thực tế của Đề án Đèo Bảo Lộc tỷ lệ 1:50.000 (Phạm Văn Hường chủ biên, 2014).
  2. Phương pháp lộ trình địa chất: Khảo sát thực địa, quan sát địa mạo, đo vẽ vết lộ, mô tả đới dập vỡ kiến tạo, đo góc thế nằm (phương vị góc dốc, hướng dốc) và lấy các mẫu đá, mẫu quặng tại các điểm lộ BL1, BL2, BL3, BL177, BL181.
  3. Phương pháp nghiên cứu thạch học – khoáng vật: Gia công và phân tích các lát mỏng thạch học (dưới kính hiển vi phân cực truyền qua 1 nicol và 2 nicol), phân tích mẫu khoáng tướng quặng (dưới kính hiển vi phản xạ) để xác định cấu tạo, kiến trúc, thế hệ khoáng vật và phân tích trọng sa nhân tạo định lượng khoáng vật nặng.
  4. Phương pháp nghiên cứu thạch địa hóa: Sử dụng kết quả phân tích quang phổ phát xạ plasma (ICP) cho mẫu đá magma và phương pháp hấp thụ nguyên tử đối với quặng sắt.
  5. Phương pháp thống kê – tin học: Sử dụng phần mềm MapInfo để biên tập bản đồ địa chất và khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 và 1:25.000, kết hợp xử lý số liệu bảng biểu trên Microsoft Excel.
  6. Phương pháp luận giải và tổng hợp: Đối sánh tổ hợp khoáng vật biến đổi nhiệt dịch, cấu tạo quặng và các yếu tố khống chế để xác định nguồn gốc thành tạo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về khu vực Đông Giang

Chương 1 trình bày đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội và lịch sử nghiên cứu địa chất vùng Đông Giang:

  • Địa lý tự nhiên: Địa hình thuộc vùng chân núi phía Tây Bắc sông La Ngà, độ cao trung bình 400–600 m, địa hình đồi bát úp lởm chởm tảng lăn granodiorit phong hóa. Mạng lưới sông suối gồm suối Đá (phía Tây), suối Đo Bron (phía Bắc), suối Rum (phía Nam) cùng đổ vào sông La Ngà – nguồn cấp nước chính cho hồ thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa mưa (tháng 5–11, mưa tập trung tháng 7–9, lượng mưa 1.200–1.900 mm/năm) và mùa khô (tháng 12–4 năm sau, lượng mưa <50 mm/tháng), nhiệt độ trung bình năm 27 °C, bốc hơi mạnh mùa khô (>100 mm/tháng). Thảm thực vật chủ yếu là cây bụi gai chịu hạn trên đất phong hóa nghèo dinh dưỡng xen kẽ nương rẫy trồng chuối, điều, thanh long.
  • Kinh tế nhân văn: Xã Đông Giang có 712 hộ với 3.086 nhân khẩu (số liệu năm 2015), trong đó 90% là đồng bào dân tộc thiểu số (K’ho, Rai, Chăm, Nùng, Kinh). Giao thông kết nối qua Tỉnh lộ 6 và Quốc lộ 55.
  • Lịch sử nghiên cứu: Phân định hai giai đoạn rõ rệt:
    • Trước năm 1975: Các công trình tổng quan của E. Saladin (1:4.000.000), E. Saurin (1:500.000), J. Fromaget (1941, 1:2.000.000), H. Fontaine và Hoàng Thị Thân (1971), khảo sát từ hàng không của Mỹ nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào khu vực Đông Giang.
    • Sau năm 1975: Các đề án đo vẽ tổng thể miền Nam của Trần Đức Lương – Nguyễn Xuân Bao (1:500.000), loạt tờ Bến Khế – Đồng Nai tỷ lệ 1:200.000 của Nguyễn Đức Thắng (1986), bản đồ sinh khoáng đới Đà Lạt của Nguyễn Tường Tri (1986–1990) và đề án tờ Đèo Bảo Lộc tỷ lệ 1:50.000 do Phạm Văn Hường chủ biên phát hiện trực tiếp điểm quặng Đông Giang.

Chương 2: Đặc điểm địa chất khu vực Đông Giang

Chương 2 tổng hợp các phân vị địa tầng, magma xâm nhập và bình đồ kiến tạo khống chế:

  • Địa tầng:
    • Hệ tầng Trà Mĩ ($J_2a\text{--}bj,tm$): Trầm tích lục nguyên hạt vụn thô xen hạt mịn (bột kết, bột sét kết chiếm ưu thế), tồn tại dưới dạng các khối sót ở phía Đông khu vực nghiên cứu.
    • Hệ tầng Đèo Bảo Lộc ($J_3\text{--}K_1,đbl$): Chiều dày khoảng 520 m, phủ bất chỉnh hợp lên hệ tầng Trà Mĩ. Phần dưới là cuội tảng kết tuf, cát bột kết tuf; phần trên là phun trào trung tính gồm andesit, tuf andesitodacit ($SiO_2 = 60,56%$; $Al_2O_3 = 18,46%$; $FeO = 6,11%$) và andesit porphyrit ($SiO_2 = 56,94%$; $Al_2O_3 = 17,13%$; $FeO = 5,71%$).
    • Trầm tích Holocen thượng ($aQ_2^3$): Cát, bột, sét, cuội sỏi ven bãi bồi sông La Ngà và các suối, bề dày đạt tới 2,3 m.
  • Magma xâm nhập:
    • Phức hệ Định Quán (pha 2 - $K_1đq_2$): Phân bố rộng nhất trong vùng, xuyên cắt hệ tầng Đèo Bảo Lộc. Thành phần thạch học là granodiorit màu xám tro/xám đen hạt nhỏ đến vừa.
    • Phức hệ Đèo Cả (pha 2 - $Kđc$): Lộ diện tích nhỏ khoảng 1 km² ở phía Bắc, thành phần granosyenit màu xám hồng gồm plagioclas (32%), felspat kali (36–38%), thạch anh (22%), biotit (8–10%).
  • Kiến tạo: Vùng nghiên cứu nằm ở rìa Đông Nam đới Đà Lạt, có đới đứt gãy phương Đông Bắc – Tây Nam cắt qua trầm tích và đá xâm nhập, kèm theo các biểu hiện khoáng hóa vàng, thiếc và các khe nứt chứa quặng sắt.

Chương 3: Đặc điểm khoáng hóa sắt khu vực Đông Giang

Chương 3 là phần trọng tâm của khóa luận, mô tả chi tiết hình thái, thạch học khoáng vật và điều kiện tạo quặng:

  • Hình thái và quy mô thân khoáng: Toàn khu vực phát triển 1 đới khoáng hóa kéo dài lộ trên mặt khoảng 200 m, rộng trung bình 12 m, nổi cao <10 m, chạy theo phương bắc $10^\circ$ và $190^\circ$, cắm dốc $60^\circ$. Đới quặng gồm 13 mạch đơn (bề dày trung bình mỗi mạch đơn 0,1 m):
    • Thân khoáng hóa 1 (vết lộ BL3): Dạng mạch lấp đầy khe nứt trong đới dập vỡ phương ĐB–TN cắt qua granodiorit, cắm về Đông Nam góc $55\text{--}65^\circ$, dày 3–5 cm, đới biến đổi cạnh mạch dày <3 cm.
    • Thân khoáng hóa 2: Mạch thạch anh – magnetit lộ dài 5 m, dày 5–15 cm, thế nằm cắm Đông Nam ($100^\circ \angle 60^\circ$), đới biến đổi dày 3–5 mm.
  • Đá vây quanh và biến đổi nhiệt dịch: Đá vây quanh là granodiorit pha 2 phức hệ Định Quán có thành phần khoáng vật gồm: plagioclas (39–44%), felspat kali orthoclas (16–20%), thạch anh (17–19%), biotit (11–13%), amphibol hornblend lục (8–12%), khoáng vật quặng (<2%), apatit và zircon ít. Các biến đổi trao đổi nhiệt dịch quanh thân khoáng diễn ra trong phạm vi hẹp (<5 cm), bao gồm: thạch anh hóa, albit hóa, serixit hóa (thay thế plagioclas andezin số hiệu 45–49), clorit hóa, epidot hóa (biến đổi từ biotit và hornblend), kaolin hóa và đặc biệt là actinolit – tremolit hóa đi kèm tích tụ quặng.
  • Đặc điểm thạch địa hóa granodiorit đá vây quanh (mẫu BL 177): $SiO_2 = 62,00%$; $TiO_2 = 0,55%$; $Al_2O_3 = 17,55%$; $Fe_2O_3 = 1,13%$; $FeO = 3,75%$; $MnO = 0,08%$; $MgO = 1,85%$; $CaO = 4,40%$; $Na_2O = 3,84%$; $K_2O = 2,60%$; $P_2O_5 = 0,13%$; $MKN = 1,22%$.
  • Thành phần và thế hệ khoáng vật quặng:
    • Magnetit ($Fe_3O_4$): Chiếm 55–61% quặng nguyên sinh. Gồm Magnetit I (dạng nửa tự hình, kích thước 0,1–0,4 mm, xâm tán hoặc tạo ổ trong thạch anh I) và Magnetit II (dạng tha hình kích thước <0,1 mm, lấp khe nứt của magnetit I và thạch anh I).
    • Hematit ($Fe_2O_3$): Chiếm 5–15%. Gồm Hematit I (dạng mạng lưới xám xanh ven rìa/trong magnetit I) và Hematit II (dạng vi mạch <<0,1 mm xuyên cắt thạch anh I và magnetit I).
    • Chalcopyrit ($CuFeS_2$): Dạng hạt tha hình kích thước ~0,1 mm đi cùng magnetit II.
    • Limonit ($Fe_2O_3\cdot nH_2O$): Khoáng vật ngoại sinh (3–5%) dạng keo nhuộm nâu đỏ.
    • Phân tích trọng sa nhân tạo: Hàm lượng trung bình magnetit đạt 321,153 kg/tấn, hematit đạt 6,272 kg/tấn; có mặt các khoáng vật phụ và khoáng vật quặng khác như caxiterit, galena, sphalerit, pyrit, monazit, turmalin, ilmenit, anatas, leucoxen, molipdenit, fluorit.
  • Cấu tạo và kiến trúc quặng: Cấu tạo đặc trưng là xâm tán, dạng ổ và dạng mạch; kiến trúc quặng gồm tự hình, nửa tự hình và tha hình.
  • Hóa quặng và chất lượng: Phân tích hóa học quặng cho thấy hàm lượng $Fe = 35,45\text{--}46,00%$ (trung bình 40,73%); tổng hàm lượng oxit có hại $SiO_2 + Al_2O_3 = 18,84\text{--}36,17%$ (trung bình 27,51%); photpho thấp $P = 0,03\text{--}0,04%$.
  • Nguồn gốc và tiến trình tạo khoáng: Quặng thành tạo qua 2 giai đoạn nhiệt dịch:
    1. Giai đoạn Thạch anh – Magnetit – Hematit – Casiterit (?): Giai đoạn tạo khoáng chính ở nhiệt độ cao, đi kèm biến đổi actinolit – tremolit hóa, clorit hóa, epidot hóa.
    2. Giai đoạn Thạch anh – Sulfua (?): Giai đoạn muộn kết thúc quá trình khoáng hóa với sự xuất hiện của chalcopyrit, pyrit (?), galena (?), sphalerit (?) cùng magnetit II, hematit II và biến đổi serixit hóa.
  • Kiểu mỏ khoáng: Xếp vào kiểu mỏ magnetit – hematit – thạch anh dạng mạch nhiệt dịch – xâm nhập liên quan đến hoạt động magma phức hệ Định Quán.
Thân khoáng hóa $SiO_2$ (%) $TiO_2$ (%) $Al_2O_3$ (%) $Fe_2O_3$ (%) $Fe$ (%) $MgO$ (%) $P_2O_5$ (%) $P$ (%) $SiO_2 + Al_2O_3$ (%)
Thân 1 34,84 0,38 1,33 50,69 35,45 1,82 0,09 0,04 36,17
Thân 2 16,84 0,28 2,00 65,77 46,00 2,21 0,07 0,03 18,84
Trung bình 25,84 0,33 1,665 58,23 40,73 2,015 0,08 0,035 27,51

Chương 4: Các yếu tố khống chế quặng và triển vọng khoáng hóa sắt khu vực Đông Giang

Chương 4 phân tích các tiền đề sinh khoáng và thẩm định tiềm năng kinh tế:

  • Yếu tố cấu trúc – kiến tạo: Hệ thống đứt gãy phương ĐĐB–TTN và các khe nứt căng giãn thứ sinh phương ĐB–TN đóng vai trò là kênh dẫn và không gian lắng đọng dung dịch nhiệt dịch. Tuy nhiên, hoạt động kiến tạo khu vực tương đối yếu, khe nứt phân bố rải rác làm cho các thân khoáng có quy mô nhỏ, gián đoạn.
  • Yếu tố magma: Granodiorit phức hệ Định Quán đóng vai trò đá vây quanh chứa quặng trực tiếp.
  • Yếu tố biến chất trao đổi – nhiệt dịch: Đới biến đổi nhiệt dịch giàu actinolit – tremolit, clorit, epidot phát triển hẹp sát rìa mạch, phản ánh cường độ nhiệt dịch giới hạn tại chỗ.
  • Đánh giá triển vọng khoáng sản: Đối chiếu với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 49:2012/BTNMT (yêu cầu đối với quặng sắt công nghiệp: bề dày thân quặng $\ge 1\text{ m}$; hàm lượng có ích $Fe \ge 23%$; hàm lượng chất có hại $SiO_2 + Al_2O_3 \le 25%$; $P \le 0,25%$):
    • Dù hàm lượng photpho đạt chuẩn ($P \le 0,25%$) và hàm lượng sắt thực tế đạt 40,73%, nhưng bề dày mạch đơn thực tế quá mỏng (chỉ đạt 0,1 m).
    • Khi quy đổi theo công thức tính toán chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để đạt chuẩn công nghiệp ($Fe \ge 23%$), thân quặng cần phải đạt bề dày tối thiểu 1,77 m và hàm lượng $SiO_2 + Al_2O_3 \le 15,5%$. Trong khi đó, thực tế hàm lượng tạp chất oxit silic và nhôm trong quặng Đông Giang lại rất cao ($27,51%$).
    • Kết luận triển vọng: Điểm khoáng hóa sắt Đông Giang được xếp vào loại không có triển vọng đến ít triển vọng khai thác quy mô công nghiệp, chỉ dừng lại ở mức độ biểu hiện khoáng hóa.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu của khóa luận đã tổng hợp và xác lập các kết quả cụ thể sau:

Thông số / Đặc điểm Giá trị / Kết quả nghiên cứu xác lập
Quy mô đới khoáng hóa Dài khoảng 200 m, rộng trung bình 12 m, nổi cao <10 m
Số lượng và kích thước mạch 1 đới gồm 13 mạch đơn; bề dày mạch đơn trung bình 0,1 m (biến thiên từ 3–15 cm)
Thế nằm thân quặng Phương bắc $10^\circ$ và $190^\circ$, hướng dốc Đông Nam, góc dốc trung bình $60^\circ$
Hàm lượng hóa học quặng $Fe = 40,73%$; $SiO_2 + Al_2O_3 = 27,51%$; $P = 0,035%$
Thành phần khoáng vật quặng Magnetit (55–61%), Hematit (5–15%), Limonit (3–5%), Chalcopyrit
Hàm lượng trọng sa quặng Magnetit trung bình 321,153 kg/tấn; Hematit 6,272 kg/tấn
Đá vây quanh trực tiếp Granodiorit pha 2 phức hệ Định Quán ($SiO_2 = 62,00%$; $Al_2O_3 = 17,55%$)
Đới biến đổi nhiệt dịch Actinolit – tremolit hóa, albit hóa, thạch anh hóa, serixit hóa, clorit hóa, epidot hóa
Kiểu mỏ và nguồn gốc Kiểu mỏ magnetit – hematit – thạch anh dạng mạch, nguồn gốc nhiệt dịch – xâm nhập nhiệt độ cao
Đánh giá triển vọng Không có triển vọng đến ít triển vọng khai thác công nghiệp (dừng ở mức biểu hiện khoáng hóa)

Đóng góp của khóa luận:

  • Cung cấp bộ số liệu thạch học, lát mỏng, khoáng tướng và địa hóa định lượng chi tiết đầu tiên cho điểm khoáng hóa sắt Đông Giang mới được phát hiện.
  • Minh chứng rõ ràng về mặt khoa học rằng biểu hiện quặng sắt tại đây có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ cao liên quan đến magma kiềm vôi, đồng thời chỉ ra các khoáng vật biến đổi nhiệt dịch đặc trưng (actinolit – tremolit) làm dấu hiệu tìm kiếm.
  • Đưa ra kết luận đánh giá triển vọng khách quan theo quy chuẩn QCVN 49:2012/BTNMT, giúp các cơ quan điều tra địa chất (Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam) không phân bổ lãng phí nguồn lực đầu tư đào hào, khoan sâu thăm dò vào các diện tích không đạt chỉ tiêu công nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên các vết lộ tự nhiên trên mặt đất và đới dập vỡ phong hóa nông trong phạm vi 6 km²; chưa có công trình khai đào sâu (hào thăm dò hoặc lỗ khoan) để kiểm chứng cấu trúc thân mạch ở đới sâu dưới mực nước ngầm. Một số khoáng vật quặng phụ phát hiện trong mẫu trọng sa (như casiterit, galena, sphalerit, pyrit) có hàm lượng rất nhỏ và còn để dấu hỏi nghi vấn (?).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục đối chiếu, liên kết dữ liệu thạch địa hóa và khoáng tướng của điểm quặng Đông Giang vào cấu trúc địa chất tổng thể của Đề án lập Bản đồ Địa chất và Điều tra khoáng sản nhóm tờ Đèo Bảo Lộc tỷ lệ 1:50.000 nhằm khoanh vùng các cấu trúc kiến tạo thuận lợi hơn trong khu vực lân cận.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn thiết thực:

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Địa chất, Địa chất khoáng sản, Thạch học – Địa hóa, Thăm dò khoáng sản; các kỹ sư địa chất thuộc các đoàn đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 và 1:25.000 tại khu vực đới Đà Lạt và Nam Trung Bộ.
  • Phần nội dung giá trị nhất: Phương pháp mô tả lát mỏng thạch học – khoáng tướng (Chương 3 và Phụ lục 1, 2) với các hình ảnh vi học chi tiết về song tinh plagioclas, kiến trúc myrmekit, cấu tạo mạng lưới hematit trong magnetit; quy trình tính toán đối chiếu chỉ tiêu quặng công nghiệp theo QCVN 49:2012/BTNMT.

Câu hỏi thường gặp

1. Thân khoáng hóa sắt khu vực Đông Giang có quy mô và cấu trúc phân bố như thế nào?
Khoáng hóa sắt Đông Giang phân bố trong 1 đới khoáng hóa lộ dài khoảng 200 m, rộng trung bình 12 m, cao <10 m, chạy theo phương bắc $10^\circ$ và $190^\circ$, cắm dốc $60^\circ$. Đới khoáng hóa gồm 13 mạch đơn, mỗi mạch dày trung bình 0,1 m (riêng 2 mạch lộ rõ được đo chi tiết dày từ 3–5 cm và 5–15 cm).

2. Thành phần khoáng vật quặng chính và hàm lượng quặng trong thân khoáng là bao nhiêu?
Khoáng vật quặng nguyên sinh chủ yếu gồm magnetit (55–61%) và hematit (5–15%), cùng lượng nhỏ chalcopyrit; khoáng vật ngoại sinh là limonit (3–5%). Theo phân tích trọng sa nhân tạo, hàm lượng magnetit trung bình đạt 321,153 kg/tấn và hematit trung bình đạt 6,272 kg/tấn.

3. Thành phần hóa học của quặng sắt Đông Giang có đáp ứng tiêu chuẩn công nghiệp không?
Quặng có hàm lượng $Fe = 35,45\text{--}46,00%$ (trung bình 40,73%), $P = 0,03\text{--}0,04%$ và $SiO_2 + Al_2O_3 = 18,84\text{--}36,17%$ (trung bình 27,51%). Đối chiếu quy chuẩn QCVN 49:2012/BTNMT, quặng không đạt tiêu chuẩn khai thác công nghiệp do bề dày mạch quá mỏng (chỉ 0,1 m so với yêu cầu quy đổi 1,77 m) và hàm lượng oxit tạp chất $SiO_2 + Al_2O_3$ quá cao ($27,51%$ so với giới hạn yêu cầu $\le 15,5%$).

4. Đá vây quanh trực tiếp của thân khoáng là loại đá nào và bị những biến đổi nhiệt dịch gì?
Đá vây quanh là granodiorit pha 2 thuộc phức hệ Định Quán ($K_1đq_2$). Đới đá vây quanh sát mạch quặng (<5 cm) bị các quá trình biến đổi nhiệt dịch gồm thạch anh hóa, albit hóa, serixit hóa, clorit hóa, epidot hóa, kaolin hóa và actinolit – tremolit hóa.

5. Tiến trình tạo khoáng hóa sắt khu vực Đông Giang được chia thành mấy giai đoạn?
Tiến trình tạo khoáng gồm 2 giai đoạn chính: (1) Giai đoạn Thạch anh – Magnetit – Hematit – Casiterit (?) là giai đoạn tạo khoáng nhiệt dịch chính ở nhiệt độ cao; (2) Giai đoạn Thạch anh – Sulfua (?) là giai đoạn muộn kết thúc quá trình tạo quặng với sự xuất hiện của chalcopyrit và các khoáng vật sulfua.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Vương Hùng đã xác định đầy đủ đặc điểm địa chất, thạch học khoáng vật và bản chất nhiệt dịch – xâm nhập của điểm khoáng hóa sắt magnetit – hematit tại xã Đông Giang, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Kết quả phân tích lát mỏng, khoáng tướng và hóa học quặng cho thấy các thân quặng tồn tại dưới dạng mạch thạch anh – magnetit mỏng nằm trong đá granodiorit phức hệ Định Quán với hàm lượng sắt trung bình 40,73%. Dựa trên các chỉ tiêu kỹ thuật của QCVN 49:2012/BTNMT, công trình đã kết luận chính xác điểm quặng Đông Giang chỉ dừng lại ở mức độ biểu hiện khoáng hóa không có triển vọng kinh tế công nghiệp, cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho công tác đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Đèo Bảo Lộc.