CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC ĐÔNG GIANG 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ Điểm khoáng hóa sắt trong khu vực nghiên cứu thuộc xã Đông Giang, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận có diện tích khoảng 6km2 (bảng 1.1) cách Ủy ban Nhân dân xã Đông Giang < 1 km theo hướng Nam, cách tỉnh lộ 6 khoảng 700 m và cách quốc lộ 55 khoảng 14.5 km theo hướng Tây (Hình 1. Vị trí khu vực Đông Giang tiếp giáp với các xã sau: - Phía Đông: Xã Hàm Phú, huyện Hàm Thuận Bắc - Phía Nam: Xã Thuận Minh, huyện Hàm Thuận Bắc và xã Mỹ Thạnh, huyện Hàm Thuận Nam - Phía Tây: xã La Dạ, huyện Hàm Thuận Bắc Bảng 1.1: Tọa độ khống chế giới hạn diện tích nghiên cứu khu vực Đông Giang Tọa độ Vn_ 2000 Điểm góc X Y 1 820,000 1,242,00 2 823,000 1,242000 3 823,000 1,244,000 4 820,000 1,244,000 Diện tích khu vực nghiên cứu thuộc bản đồ địa hình tờ Dân Cường (số hiệu C48- 24–D), tỷ lệ 1: 50.000, hệ tọa độ Vn_2000. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 1.
Địa hình - địa mạo Khu vực nghiên cứu thuộc vùng chân núi phía Tây Bắc sông La Ngà. Bề mặt địa hình không bằng phẳng, độ cao trung bình 400 – 600 m với những tảng lăn. Đá lộ ra rải rác, một số có dạng khối tảng lăn. Phần lớn bề mặt bị một lớp phong hóa bao phủ, chủ yếu là vật liệu thô, kém màu mỡ.
Đặc điểm khoáng hóa sắt magnetit khu vực Đông Giang, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận Trang 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN VƯƠNG HÙNG Hình 1. 1: Bản đồ vị trí giao thông khu vực Đông Giang, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.1] Đặc điểm khoáng hóa sắt magnetit khu vực Đông Giang, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận Trang 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN VƯƠNG HÙNG 1. Mạng lưới sông suối Trong khu vực nghiên cứu có các khe cạn ở bên sườn, khi mưa dòng nước sẽ theo các khe này luân chuyển ra các con suối gồm: suối Đá phía Tây, suối Đo Bron phía Bắc, suối Rum phía Nam rồi đổ vào sông La Ngà. Quá trình này đã mang theo một lượng lớn vật liệu chuyển đi bao gồm chất hữu cơ, mùn làm đất thêm bạc màu và khô cằn.
Sông La Ngà phía Đông Nam (ĐN) khu vực nghiên cứu có hướng chảy Đông Bắc – Tây Nam, giữ vai trò lớn trong cung cấp nguồn nước cho nhà máy thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi; ngoài ra, hồ Hàm Thuận – Đa Mi còn đáp ứng nhu cầu nông nghiệp, thủy sản,. Khí hậu Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa (kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau). Lượng mưa trung bình trong vùng có giá trị phổ biến từ 1200 – 1900mm.
Vào mùa khô có lượng mưa dưới 50 mm/tháng. Mưa nhiều thường tập trung vào tháng 7, 8 và 9 hằng nằm. Nhiệt độ hằng năm trung bình là 27,0 0C với biên độ nhiệt từ 4,4 đến 5,6 0C. Nhiệt độ cao nhất khoảng 39,0÷40,0 0C và thấp nhất khoảng 15,0 ÷ 16,0 0C.
Tổng số giờ nắng trung bình năm là 2500 ÷ 2700 giờ. Độ ẩm trung bình trong năm là 75÷80%, lượng bốc hơi năm là 1100 ÷ 1900 mm. Vào mùa mưa có lượng bốc hơi nhỏ, trung bình khoảng 60 – 90 mm. Tuy nhiên, vào mùa khô lại có sự bốc hơi mạnh hầu hết trên 100 mm điều này vượt xa lượng mưa.
Chế độ gió: Hướng gió thể hiện thay đổi rõ rệt vào mùa khô hướng Đông Bắc và mùa mưa hướng Tây Nam với tốc độ khoảng 1,5 ÷ 2,2 m/s. Vào đầu và cuối mùa, hướng gió bị phân tán. Tháng 5 và tháng 10 là thời kỳ chuyển mùa nên hướng gió hoạt động không ổn định và có sự biến động [i. Tuy lượng mưa đáng kể nhưng số giờ nắng lớn, nhiệt độ cao, lượng bốc hơi lớn làm khí hậu khu vực Đông Giang trở nên khắc nghiệt.
Thảm thực vật Đặc điểm khoáng hóa sắt magnetit khu vực Đông Giang, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận Trang 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN VƯƠNG HÙNG Trên nền đất phong hóa nghèo dinh dưỡng đã tạo nên một thảm thực vật chủ yếu là cây bụi thấp, cây gai, lá nhỏ (Ảnh 1. Ở đây, người dân đã cải tạo làm nương rẫy, trồng một số cây như chuối (Ảnh 1.2), cà phê, chè, hay ra xa hơn có như thanh long, điều, cà phê, chè… 1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ NHÂN VĂN 1. Dân cư Trong xã Đông Giang gồm 5 dân tộc khác nhau là: K’ho, Rai, Chăm, Nùng và một số ít người Kinh.
Theo báo cáo của Ủy ban Nhân dân xã hiện có 712 hộ trong tổng số 3086 khẩu (2015) với 90 % là đồng bào dân tộc thiểu số. Phần lớn dân cư sống tập trung ở các thôn trong xã, một số ít rải rác dọc theo tuyến đường liên xã, liên tỉnh và đường vào các khu sản xuất. Kinh tế Kinh tế trong vùng nghiên cứu thuần nông nghiệp trong những năm gần đây phát triển nhờ cây thanh long; ngoài ra còn phát triển các loại cây khác như cây điều, cây chuối, chè… Với sự đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của nhà nước đã đem lại chuyển biến tích cực về kinh tế khu vực nông thôn, trong đó có xã Đông Giang nói riêng và vùng phía Tây Hàm Thuận Bắc nói chung. Giao thông vận tải Từ xã Đông Giang đi thị trấn Ma Lâm huyện Hàm Thuận Bắc khoảng 27,1 km, ra tỉnh Bình Thuận khoảng 32,4 km, đi thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng khoảng 169 km và đi TP.
Hồ Chí Minh khoảng 237 km. Có tuyến quốc lộ 55 từ Ngã Ba 46 qua Hàm Tân đi Bà Rịa – Vũng Tàu. Đây là con đường giao thông huyết mạch giúp phát triển kinh tế khu vực này nối liền với các vùng lân cận. Từ khu vực nghiên cứu Đông Giang đi đến Ủy ban Nhân dân xã khoảng 2 km bằng đường tỉnh lộ 6 (Hình 1.
Thông tin liên lạc Đặc điểm khoáng hóa sắt magnetit khu vực Đông Giang, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận Trang 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN VƯƠNG HÙNG Trong khu vực nghiên cứu đã được phủ viễn thông phục vụ thông tin liên lạc. Trên dọc tuyến tỉnh lộ, cách khu vực nghiên cứu khoảng 700 m được quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống điện cao thế. Đây là thế mạnh để có thể phát triển khu công nghiệp, dịch vụ trong tương lai. Đời sống văn hóa Ngành văn hóa của huyện Hàm Thuận Bắc đẩy mạnh công tác tuyên truyền các ngày lễ, tăng cường công tác quản lý, tổ chức hoạt động văn hóa (hội thi hát ru và hát dân ca), phát triển mạng lưới viễn thông - internet, thể dục thể thao (đại hội thể dục thể thao các xã vùng cao), công tác kế hoạch hóa gia đình, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin,… .Từ đó, từng bước đưa đời sống văn hóa của người dân được nâng cao.
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT KHOÁNG SẢN Lịch sử nghiên cứu khu vực Nam Trung Bộ nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng chia thành hai giai đoạn: giai đoạn trước năm 1975 và giai đoạn sau năm 1975. Giai đoạn trước năm 1975 Trước năm 1975, việc nghiên cứu địa chất chủ yếu do các nhà địa chất người Pháp tiến hành. Tiêu biểu là công trình: - Bản đồ địa chất Đông Dương do E. Saladin thành lập tỷ lệ 1:4.000 với những nét phát thảo ban đầu về địa chất và khoáng sản vùng.
- Công trình “Nghiên cứu địa chất Nam Trung Bộ, Nam Việt Nam và Đông Cam Pu Chia” của E. Saurin (được xuất bản cùng với Bản đồ địa chất Đông Dương, tỷ lệ 1:500. - Năm 1941, xuất bản chuyên khảo “Đông Dương cấu tạo địa chất, các đá, các mỏ và sự liên quan có thể của chúng với kiến tạo” cùng bộ bản đồ địa chất, tỷ lệ 1:2. Fromaget, chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu của E.
- Năm 1960, xuất bản cuốn “Từ điển địa tầng Đông Dương” của E. - Năm 1954 - 1975, có các tài liệu “Nghiên cứu phù sa cổ” của H. Fontaine và Hoàng Thị Thân (1971), nghiên cứu cổ sinh của Tạ Trần Tấn (1968 – 1974). Đặc biệt có ứng dụng địa vật lý hàng không (từ, trọng lực), tỷ lệ 1: 200.000 của các nhà vật lý người Mĩ trên toàn miền Nam Việt Nam.
Đặc điểm khoáng hóa sắt magnetit khu vực Đông Giang, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận Trang 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN VƯƠNG HÙNG - Nhìn chung, việc nghiên cứu và mô tả các thành tạo magma xâm nhập, khoáng sản trong giai đoạn trước năm 1975 còn khái quát, sơ lược, chưa có công trình nào đề cập đến khu vực nghiên cứu. Giai đoạn sau năm 1975 Từ năm 1975, ngay sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu địa chất Nam Việt Nam đã được tiến hành theo định hướng từ khái quát đến chi tiết. Tiêu biểu là các công trình: - Báo cáo đo vẽ bản đồ địa chất miền Nam Việt Nam, chủ biên Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao, tỷ lệ 1: 500. Sau đó được ghép nối với “Bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ 1:500.
Dovjikov (1965) thành lập bản đồ Địa chất Việt Nam, tỷ lệ 1:500. - Báo cáo đo vẽ lập Bản đồ Địa chất và tìm kiếm khoáng sản, tỷ lệ 1: 200.000 nhóm tờ Bến Khế - Đồng Nai do Nguyễn Đức Thắng chủ biên (1979 – 1987). - Năm 1994, biên hội loạt bản đồ địa chất tỷ lệ 1: 200.000 cho miền Nam Việt Nam, do Nguyễn Xuân Bao chủ biên. Đây là công trình đã tổng hợp các thành quả nghiên cứu địa chất miền Nam Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1994 và đã được Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam xuất bản vào năm 1997.
- Trong những năm 1986 – 1990, tiến hành nghiên cứu và lập bản đồ sinh khoáng đới Đà Lạt tỷ lệ 1: 200.000 và chi tiết hóa một số khoáng sản có triển vọng như Sn, W, Au, Mo, Pb, Zn, … do Nguyễn Tường Tri chủ biên. - Đề tài nghiên cứu kiến tạo và sinh khoáng Nam Việt Nam, tỷ lệ 1: 500.000 do Nguyễn Xuân Bao chủ biên (2000). Đã giải thích quy luật sinh khoáng miền và phân vùng triển vọng Nam Việt Nam dựa theo học thuyết kiến tạo mảng. - Từ năm 1992 đến nay, trên lãnh thổ Nam Việt Nam, LĐBĐĐCMN tiếp tục thực hiện các công trình đo vẽ bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản, tỷ lệ 1: 50.
Công tác điều tra này đã góp phần phát hiện những điểm khoáng sản mới. Trong đó, đối với khu vực nghiên cứu có Đề án Lập bản đồ Địa chất và điều tra khoáng sản nhóm tờ Đèo Bảo Lộc tỷ lệ 1:50.