Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thuế giá trị gia tăng, hoàn thuế giá trị gia tăng và tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng Chương 2: Tình hình tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng Chương 3: Các giải pháp phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng 3 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG, HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, nhưng ở Việt Nam mới được áp dụng từ năm 1999. Thuế giá trị gia tăng có ưu điểm hơn hẳn so với thuế doanh thu trước đây.
Nếu như thuế doanh thu tính trên doanh thu đã có thuế thì thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ. Điều 1 Luật Thuế giá trị gia tăng đã đưa ra khái niệm về thuế giá trị gia tăng: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.” Như vậy, theo định nghĩa này thì thuế giá trị gia tăng có đặc điểm: Thuế được tính trên giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ chứ không tính trên toàn bộ giá trị của hàng hoá, dịch vụ đó. Nhà nước kiểm soát được từng giai đoạn làm thay đổi giá trị hàng hoá, dịch vụ, do đó có cơ chế đánh thuế phù hợp. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng bao gồm tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ được luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Theo chúng tôi, khái niệm này đã phản ánh đầy đủ bản chất của thuế giá trị gia tăng. Đa số các nước trên thế giới hiện nay áp dụng Luật Thuế giá trị gia tăng đều đưa ra khái niệm như vậy. Đối tƣợng chịu thuế và đối tƣợng nộp thuế giá trị gia tăng Đối tượng chịu thuế: Về cơ bản, đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng cũng như đối tượng chịu thuế doanh thu trước kia, đó là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam [4,7]. Đối tượng nộp thuế: Tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam (gọi chung là 4 z cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng (gọi chung là người nhập khẩu) [4,7].
Đó là các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước và Luật Hợp tác xã; các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức, đơn vị sự nghiệp khác; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng kinh doanh khác [4,67]. Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng cũng qui định những đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng như: sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế thông thường. Ví dụ: thóc phơi, sấy khô, đỗ tương được bóc vỏ.; sản phẩm muối: muối sản xuất từ nước biển, muối iôt.; một số hàng hoá nhập khẩu như máy bay, dàn khoan, tàu thuỷ thuê của nước ngoài để dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh; dịch vụ tín dụng và quĩ đầu tư; chuyển quyền sử dụng đất. Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất [4,11].
a- Giá tính thuế: Do thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên giá tính thuế là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng hoặc đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu [4,11]. b- Thuế suất thuế giá trị gia tăng: Luật Thuế giá trị gia tăng qui định có bốn mức: 0%, 5%, 10% và 20%. Mức thuế suất 0% được áp dụng chủ yếu đối với hàng hoá xuất khẩu. Mức thuế suất 5% được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ như: nước sạch phục vụ sinh 5 z hoạt, sản xuất; thuốc chữa bệnh; phân bón; thuốc trừ sâu.
Mức thuế suất 10% được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ như: dầu mỏ, than đá, điện thương phẩm, vận tải, bốc xếp. Mức thuế suất 20% được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ như: vàng bạc, khách sạn, du lịch, dịch vụ môi giới. Việc phân loại các mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách điều tiết thu và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ. Hàng hoá xuất khẩu áp dụng thuế suất 0% để khuyển khích xuất khẩu.
Hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, phục vụ trực tiếp cho sản xuất và tiêu dùng được áp dụng mức thuế suất thấp là 5%. Hàng hoá, dịch vụ không thiết yếu, cần điều tiết, mức thuế suất là 20%. Nguyên tắc áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng so với thuế suất thuế doanh thu có những điểm khác nhau, đó là: Thứ nhất, thuế suất thuế doanh thu phân biệt theo ngành nghề, mặt hàng và công dụng. Cùng một loại sản phẩm, hàng hoá nhưng thuế suất qui định khâu sản xuất khác với thuế suất khâu kinh doanh thương nghiệp; Thứ hai, thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng thống nhất theo loại hàng hoá, dịch vụ, không phân biệt ngành nghề sản xuất, kinh doanh, bán buôn, bán lẻ hay nhập khẩu.
Tuy nhiên, cũng cần phải thấy sự khác nhau giữa hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế và hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% là: hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% thì không phải nộp thuế giá trị gia tăng đầu ra mà còn được khấu trừ hoặc hoàn trả số thuế đầu vào. Hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng thì không phải nộp thuế đầu ra nhưng cũng không được khấu trừ hoặc hoàn thuế đầu vào (nếu có). Như vậy, hàng hoá xuất khẩu được ưu đãi về thuế cao hơn hàng hoá thuộc diện không chịu thuế. Hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng vẫn phải chịu thuế giá trị gia tăng đầu vào (nếu có).
Phƣơng pháp tính thuế Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng khác hẳn với phương pháp tính thuế doanh thu: ”Thuế giá trị gia tăng phải nộp được tính theo phương pháp khấu trừ thuế hoặc phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng. 6 z a- Phương pháp khấu trừ thuế: phương pháp này hiện nay được đa số các nước trên thế giới áp dụng, nghĩa là: Số thuế giá trị gia tăng phải nộp bằng thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó. Thuế giá trị gia tăng đầu vào bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng [4,17].
b- Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng: Số thuế giá trị gia tăng phải nộp bằng giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế nhân thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó. Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bằng doanh số của hàng hoá, dịch vụ bán ra trừ giá vốn của hàng hoá, dịch vụ bán ra. Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng chỉ áp dụng đối với các đối tượng như: cá nhân sản xuất, kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật Đầu tư nước ngoài tài Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế và cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quí [4,17-18]. Trước đây, Nhà nước ta ban hành Luật Thuế doanh thu, song Luật thuế này bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót như: thuế đánh chồng lên thuế, có nhiều kẽ hở để trốn thuế.
Việc ban hành Luật Thuế giá trị gia tăng thay cho Luật Thuế doanh thu nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót của Luật Thuế doanh thu. Nghiên cứu hai Luật Thuế trên cho thấy giữa chúng có một số điểm giống và khác nhau cơ bản như sau: a- Những điểm giống nhau: đều là thuế gián thu, có phạm vi điều chỉnh rộng đối với hầu hết các hàng hoá, dịch vụ và hoạt động kinh doanh; thuế tính trên doanh 7 z thu hoặc giá bán hàng hoá, dịch vụ; đối tượng nộp thuế là các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. b- Những điểm khác nhau: Thứ nhất, thuế giá trị gia tăng tính trên giá bán hàng hoá, dịch vụ chưa có thuế giá trị gia tăng, còn thuế doanh thu tính trên doanh thu đã có thuế doanh thu; Thứ hai, đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ, còn đối tượng chịu thuế doanh thu là doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, vì vậy, thuế suất thuế doanh thu tăng, giảm sẽ tác động trực tiếp đến đối tượng tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ; Thứ ba, thuế doanh thu cơ sở kinh doanh phải nộp tính trên doanh thu, còn thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị gia tăng; Thứ tư, thuế doanh thu không thu khâu nhập khẩu hàng hoá, thuế giá trị gia tăng thu ngay khâu nhập khẩu hàng hoá. Điều này thể hiện chính sách thuế thống nhất và bình đẳng giữa hàng hoá sản xuất trong nước với hàng hoá nhập khẩu.