Đặc Điểm Tính Chuyên Hóa Sinh Khoáng và Mức Độ Bóc Mòn Granitoid Khối Ngọc Tụ, Kon Tum

Nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh khoáng, mức độ bóc mòn granitoid khối Ngọc Tụ, Kon Tum. Phân tích địa chất, khoáng sản khu vực. Tài liệu giá trị cho địa chất học.

Trường đại học

Viện Khoa Học Địa Chất Và Khoáng Sản

Chuyên ngành

Địa Chất Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Địa Chất

2024

144
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu của luận án

1.2. Nhiệm vụ của luận án

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Các điểm mới của luận án

1.5. Các luận điểm bảo vệ

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.7. Cơ sở tài liệu

1.8. Cấu trúc của luận án

2. KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN KHU VỰC NGỌC TỤ, KON TUM

2.1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu

2.2. Đặc điểm địa chất và khoáng sản khu vực Ngọc Tụ

2.3. Khoáng sản

3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Tính chuyên hóa địa hóa và chuyên hóa sinh khoáng

3.2. Nghiên cứu mức độ bóc mòn granitoid

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa các tài liệu

3.3.2. Khảo sát thực địa, lấy các loại mẫu phân tích

3.3.3. Hệ phương pháp phân tích

3.3.4. Hệ phương pháp nghiên cứu tính chuyên hóa sinh khoáng và mức độ bóc mòn

3.3.5. Phương pháp xử lý số liệu, luận giải kết quả

4. ĐÁNH GIÁ TÍNH CHUYÊN SINH KHOÁNG CỦA GRANITOID KHỐI NGỌC TỤ, KON TUM

4.1. Tính chuyên hóa sinh khoáng của granitoid khối Ngọc Tụ trên cơ sở nghiên cứu chuyên hóa địa hóa

4.2. Tính chuyên hóa sinh khoáng của granitoid khối Ngọc Tụ trên cơ sở nghiên cứu các modul thạch hóa, kiểu magma, bối cảnh kiến tạo magma

4.3. Tính chuyên hóa sinh khoáng của granitoid khối Ngọc Tụ trên cơ sở nghiên cứu đặc tính oxy hóa - khử của magma

4.4. Đặc điểm khoáng hóa liên quan đến granitoid khối Ngọc Tụ

4.5. Điểm khoáng hóa molipdenit tại mỏ đá Ngọc Tụ

4.6. Điểm khoáng hóa molipdenit tại Đăk Manh

4.7. Mối quan hệ giữa khoáng hóa molipdenit và granitoid Ngọc Tụ

4.8. Nguồn nhiệt và tổng khối lượng magma có khả năng tạo mỏ dự kiến

5. ĐẶC ĐIỂM MỨC ĐỘ BÓC MÒN GRANITOID KHỐI NGỌC TỤ, KON TUM

5.1. Đặc điểm kiến trúc cấu tạo đá và biến thiên hàm lượng khoáng vật theo các mức độ cao

5.2. Đặc điểm đá biến đổi khối granitoid Ngọc Tụ

5.3. Đặc điểm hệ số thạch hóa và phân bố hàm lượng nguyên tố theo độ cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

Tóm tắt

I. Tổng quan về Chuyên Hóa Sinh Khoáng Granitoid Ngọc Tụ 55 ký tự

Khu vực Kon Tum, đặc biệt là khối Ngọc Tụ, nổi tiếng với các thành tạo magma axit phân bố rộng rãi trong đới cấu trúc Pô Cô. Nhiều nghiên cứu đã được công bố về đặc điểm địa chất và thạch luận của các đá magma xâm nhập, làm sáng tỏ thành phần vật chất và điều kiện thành tạo của chúng. Nghiên cứu về granitoid tại khối Ngọc Tụ, xã Ngọc Tụ, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, đã được đề cập đến trong nhiều công trình trước đây. Các công trình đo vẽ địa chất tỷ lệ 1:200.000 và 1:50.000 đã xác định các dấu hiệu về trọng sa, địa hóa, và kiến tạo. Nghiên cứu cũng chỉ ra phía đông nam khu Ngọc Tụ có thuộc đới quặng Tu Mơ Rông, một trường quặng wolframit - molipdenit Ngok Loak, bismut, cùng với các dị thường xạ - hiếm. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu tích hợp các tiêu chí tham số đặc trưng để xác định khả năng sinh quặng và mức độ bóc mòn của granitoid khối Ngọc Tụ một cách toàn diện.

1.1. Lịch sử nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản khu vực

Các nghiên cứu trước đây về khu vực Ngọc Tụ, Kon Tum đã tập trung vào việc xác định các đới khoáng hóa và các trường khoáng hóa wolframit, đặc trưng bởi thành hệ thạch anh – wolframit, cũng như biểu hiện khoáng hóa molipdenit và các kiểu thành hệ quặng nội sinh. Một số nghiên cứu đã đề cập đến khoáng hóa vàng và molipden trong granitoid khối Ngọc Tụ, cũng như hoạt động kiến tạo Indosini và tiến hóa magma đới khâu Pô Cô. Luận án tiến sĩ địa chất này kế thừa và phát triển trên cơ sở các nghiên cứu trước đây, đồng thời bổ sung các phân tích mới để đánh giá toàn diện hơn về tiềm năng sinh khoáng và mức độ bóc mòn của granitoid.

1.2. Mục tiêu và Nhiệm vụ của Luận án Tiến sĩ Địa Chất

Mục tiêu chính của luận án là làm rõ tính chuyên hóa sinh khoáng và mức độ bóc mòn của granitoid khối Ngọc Tụ, Kon Tum, nhằm phục vụ dự báo tìm kiếm khoáng sản liên quan. Để đạt được mục tiêu này, luận án đặt ra các nhiệm vụ cụ thể, bao gồm: Nghiên cứu đặc điểm địa chất, thành phần vật chất và điều kiện thành tạo của granitoid khối Ngọc Tụ, Kon Tum; Nghiên cứu tính chuyên hóa địa hóachuyên hóa sinh khoáng của granitoid khối Ngọc Tụ, Kon Tum; Nghiên cứu và đánh giá mức độ bóc mòn granitoid khối Ngọc Tụ.

II. Vấn đề Thiếu Nghiên Cứu Chuyên Sâu Bóc Mòn Granitoid 57 ký tự

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về địa chất và khoáng sản khu vực Ngọc Tụ, Kon Tum, tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu tích hợp các tiêu chí tham số đặc trưng để xác định khả năng sinh quặng và mức độ bóc mòn granitoid khối Ngọc Tụ một cách toàn diện. Theo nghiên cứu của Trần Hoàng Vũ (2014) [21], granitoid Ngọc Tụ có khả năng tạo quặng Cu-Mo porphyr. Kết quả nghiên cứu của đề tài TNMT.05 đã xác nhận các điểm khoáng hóa, quặng hóa molipden trong nội granitoid khối Ngọc Tụ khu vực Đăk Manh, xã Đăk Rơ Nga. Tuy nhiên, việc thiếu nghiên cứu tích hợp đã hạn chế khả năng dự báo triển vọng khoáng sản nội sinh và khả năng thành tạo các mỏ thứ sinh liên quan đến granitoid khối Ngọc Tụ. Luận án tiến sĩ này tập trung giải quyết vấn đề này bằng cách cung cấp một phân tích toàn diện về tính chuyên hóa sinh khoáng và mức độ bóc mòn.

2.1. Đánh giá Tiềm năng Sinh Khoáng Molybden Mo và Wolfram W

Một trong những mục tiêu quan trọng của luận án là đánh giá tiềm năng sinh khoáng molipden (Mo) và wolfram (W) của granitoid khối Ngọc Tụ. Nghiên cứu này dựa trên việc hệ thống hóa và phân tích luận giải dữ liệu địa hóa, thạch địa hóa, đồng vị và bao thể theo các lý thuyết khoa học hiện đại. Theo các nghiên cứu trước, khu vực Ngọc Tụ đã được xác định là có các điểm khoáng hóa molipdenit (Mo-W-Bi) theo các khe nứt trong granitoid và khoáng hóa dạng mạch thạch anh - molipdenit (Mo-W-Bi (U)). Luận án sẽ đi sâu vào phân tích các yếu tố này để xác định tiềm năng thực sự của khu vực.

2.2. Xác định Mức độ Bóc mòn và Ảnh hưởng đến Quặng hóa

Việc xác định mức độ bóc mòn của granitoid khối Ngọc Tụ là một yếu tố quan trọng để đánh giá khả năng tồn tại quặng hóa theo không gian. Luận án sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu về địa chất, thạch học, đá biến đổi và tỷ số các nguyên tố chỉ thị để xác định mức độ bóc mòn của khối granitoid. Kết quả của nghiên cứu này sẽ giúp các nhà địa chất đưa ra các dự đoán chính xác hơn về vị trí và quy mô của các mỏ khoáng sản tiềm năng trong khu vực Kon Tum.

III. Phương pháp Nghiên cứu Địa Hóa Chuyên Sâu Granitoid 59 ký tự

Luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để đạt được mục tiêu. Các phương pháp này bao gồm tổng hợp, phân tích và hệ thống hóa các tài liệu hiện có, khảo sát thực địa, lấy các loại mẫu phân tích, sử dụng hệ phương pháp phân tích địa hóa, thạch học, khoáng vật học hiện đại. Ngoài ra, luận án còn áp dụng hệ phương pháp nghiên cứu tính chuyên hóa sinh khoáng và mức độ bóc mòn, cũng như phương pháp xử lý số liệu và luận giải kết quả. Cần nhấn mạnh rằng, chuyên hóa sinh khoáng là một trường hợp đặc biệt của chuyên hóa địa hóa, do đó, luận án tập trung nghiên cứu tính chuyên hóa địa hóa cùng với các quá trình địa chất hình thành magma granitoid.

3.1. Phân tích Mẫu và Dữ liệu Địa Hóa của Granitoid Kon Tum

Việc phân tích mẫu và dữ liệu địa hóa đóng vai trò then chốt trong việc xác định tính chuyên hóa sinh khoáng của granitoid khối Ngọc Tụ. Luận án sử dụng kết quả phân tích ICP-AES, ICP-MS, và các phương pháp phân tích khác để xác định thành phần nguyên tố và khoáng vật của các mẫu đá. Dữ liệu địa hóa này được sử dụng để đánh giá các modul thạch hóa, kiểu magma, và bối cảnh kiến tạo magma, từ đó suy ra khả năng sinh quặng của granitoid.

3.2. Nghiên cứu Đặc Tính Oxy Hóa Khử của Magma Granitoid

Đặc tính oxy hóa – khử của magma là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sinh khoáng. Luận án nghiên cứu đặc tính này thông qua việc phân tích tỷ số Fe2O3/FeO và các chỉ số khác. Kết quả nghiên cứu này được sử dụng để đánh giá tiềm năng sinh khoáng của granitoid khối Ngọc Tụ và so sánh với các khu vực khác trên thế giới.

3.3. Sử dụng Hệ Số Thạch Hóa để Xác Định Bóc Mòn Granitoid

Đánh giá mức độ bóc mòn granitoid là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Luận án tiến sĩ. Luận án sử dụng hệ số thạch hóa, biến thiên hàm lượng khoáng vật, đặc điểm kiến trúc cấu tạo đá theo các mức độ cao của khối granitoid để xác định mức độ bóc mòn của khối Ngọc Tụ. Căn cứ vào đó đưa ra các kết luận khoa học liên quan đến sự thành tạo khoáng sản tại khu vực

IV. Kết quả Tiềm Năng Mo W U và Mức Độ Bóc Mòn 53 ký tự

Kết quả nghiên cứu cho thấy granitoid khối Ngọc Tụ có tiềm năng sinh khoáng molipden (Mo), wolfram (W) và urani (U). Luận án đã chứng minh điều này dựa trên hệ thống hóa và phân tích luận giải dữ liệu địa hóa, thạch địa hóa, đồng vị, bao thể theo các lý thuyết khoa học hiện đại. Đồng thời, luận án đánh giá granitoid khối Ngọc Tụ đã bị bóc mòn ở mức trung bình – thấp trên cấu trúc địa chất, thạch học, đá biến đổi và tỷ số các nguyên tố chỉ thị cho mức độ bóc mòn. Cụ thể, bằng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, tác giả đã chỉ ra rằng khối granitoid Ngọc Tụ có chuyên hóa sinh khoáng molipden (Mo), wolfram (W), urani (U).

4.1. Chuyên Hóa Sinh Khoáng Molybden Mo Wolfram W Urani U

Luận án đã thành công trong việc chứng minh rằng khối granitoid Ngọc Tụ có chuyên hóa sinh khoáng molipden (Mo), wolfram (W), urani (U). Kết quả nghiên cứu này dựa trên các phương pháp khác nhau như chuyên hóa địa hóa, thạch hóa, kiểu magma, đặc tính oxy hóa – khử của magma, mối quan hệ nguồn gốc quặng hóa và magma.

4.2. Mức Độ Bóc Mòn Trung Bình Thấp của Granitoid Ngọc Tụ

Luận án cũng đã đưa ra kết luận rằng khối granitoid Ngọc Tụ có mức độ bóc mòn trung bình - thấp. Kết quả này được xác định dựa trên kết quả nghiên cứu về địa chất, thạch học, đá biến đổi và các nguyên tố chỉ thị về mức độ bóc mòn.

V. Ứng dụng Tìm Kiếm Khoáng Sản Mo W U Tiềm Năng 56 ký tự

Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng. Việc xác định được tiềm năng sinh khoáng molipden (Mo), wolfram (W), urani (U) và mức độ bóc mòn của granitoid khối Ngọc Tụ cho thấy phần vòm đỉnh đã bị bóc mòn và trong diện tích đó không còn triển vọng cho khoáng sản tương ứng. Do đó, cần tập trung tìm kiếm, phát hiện khoáng sản Mo-W-U ở rìa khối Ngọc Tụ, trong các trường đá vây quanh và những nơi granitoid chưa xuất lộ hoặc có biểu hiện bởi các chỏm nhỏ.

5.1. Tiềm Năng Tìm Kiếm Khoáng Sản ở Rìa Khối Granitoid

Việc xác định được mức độ bóc mòn cho thấy cần tập trung tìm kiếm khoáng sản ở rìa khối granitoid, nơi có thể còn các thân quặng chưa bị bóc mòn hoàn toàn. Các khu vực này có thể chứa các mỏ molipden, wolfram hoặc urani tiềm năng.

5.2. Đánh Giá Độ Sâu Tương Đối của Quặng Hóa Molipden Wolfram

Kết quả nghiên cứu mức độ bóc mòn có ý nghĩa thực tiễn trong địa chất dự báo mức khả năng tồn tại khoáng sản theo không gian và quá trình địa chất (nội sinh, ngoại sinh). Ví dụ, có thể sử dụng kết quả này để đánh giá độ sâu tương đối của quặng hóa molipden – wolfram liên quan nguồn gốc với khối granitoid Ngọc Tụ.

VI. Kết luận và Triển vọng Nghiên cứu Chuyên Hóa 53 ký tự

Nghiên cứu về chuyên hóa sinh khoángbóc mòn granitoid khối Ngọc Tụ, Kon Tum đã cung cấp những hiểu biết sâu sắc về quá trình hình thành và phân bố khoáng sản trong khu vực. Kết quả này có thể được sử dụng làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo, tập trung vào việc đánh giá chi tiết hơn về tiềm năng kinh tế của các mỏ khoáng sản tiềm năng. Cần có thêm nhiều nghiên cứu chuyên sâu về địa hóa, khoáng vật học và địa chất cấu trúc để xác định chính xác vị trí và quy mô của các thân quặng, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.

6.1. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo về Địa Chất và Khoáng Vật

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc đánh giá chi tiết hơn về địa hóa, khoáng vật học và địa chất cấu trúc của khu vực. Cần có thêm nhiều phân tích đồng vị, bao thể và các phương pháp địa vật lý để xác định chính xác vị trí và quy mô của các thân quặng.

6.2. Áp dụng Kết Quả Nghiên Cứu vào Quy Hoạch Khai Thác Bền Vững

Kết quả nghiên cứu về chuyên hóa sinh khoángbóc mòn cần được áp dụng vào quy hoạch khai thác khoáng sản bền vững, đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Cần có các biện pháp quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình khai thác khoáng sản.

14/05/2025
Đặc điểm tính chuyên hóa sinh khoáng và mức độ bóc mòn granitoid khối ngọc tụ kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Khái quát về đặc điểm địa chất và khoáng sản khu vực Ngọc Tụ, Kon Tum. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Đánh giá tính chuyên hóa sinh khoáng của granitoid khối Ngọc Tụ, Kon Tum.

Đặc điểm mức độ bóc mòn granitoid khối Ngọc Tụ, Kon Tum. 5 LỜI CẢM ƠN Luận án được thực hiện và hoàn thành tại Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Mai Trọng Tú và TS. Trịnh Xuân Hòa, NCS xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy hướng dẫn.

Trong suốt quá trình thực hiện, NCS đã nhận được sự quan tâm, động viên và giúp đỡ của Phòng Địa hóa và Môi trường, cũng như của lãnh đạo Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản và các phòng, ban trực thuộc. Đồng thời, NCS cũng nhận được sự tư vấn phương pháp và sự trợ giúp của chuyên gia PGS.TS Bùi Minh Tâm, GS. Gvozdev Vitalii trong công tác khảo sát thực địa và định hướng nghiên cứu sinh khoáng; sự hỗ trợ nhiệt tình của TS. Vera Pakhomova, TS.

Maksim Blokhin thuộc Viện Địa chất Viễn Đông (FEGI) - Liên bang Nga trong công tác phân tích các loại mẫu và luận giải kết quả. NCS xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ các nhà khoa học và các đồng nghiệp trong suốt quá trình thực hiện luận án này. KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN KHU VỰC NGỌC TỤ, KON TUM 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu Vùng nghiên cứu thuộc đới cấu trúc Pô Cô, khối Kon Tum là nơi tiếp giáp giữa 2 đới uốn nếp: rìa đông bắc đới uốn nếp Neoproterozoi - Mesozoisớm Ngọc Hồi - M’Đrak - Đăk Lin và rìa tây nam đới uốn nếp Paleo - Mesoproterozoi Sơn Hà - Tắc Pỏ với đặc trưng uốn nếp cơ bản phương uốn nếp tây bắc - đông nam và đông bắc - tây nam tương ứng, bao gồm chủ yếu bởi các đá biến chất cao tuổi Proterozoi và các thành tạo granitoid Hải Vân (P3-T1), Bà Nà (T2).

Đây chính là vùng chịu ảnh hưởng của sự đụng độ giữa vi lục địa Ấn Độ (Gondwana) vào mảng Âu - Á. Trước năm 1975, vùng nghiên cứu nằm trong phần phía bắc của địa khối Kon Tum đã được các nhà địa chất Pháp nghiên cứu, đứng đầu là J. Kết quả nghiên cứu được tổng hợp trên bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ: 1:2. Về công tác địa vật lý có bản đồ trọng lực (khái quát) Đông Dương do D.

Coston thành lập từ năm 1935. Năm 1967, hải quân Mỹ đã tiến hành bay từ máy bay tỷ lệ 1:1. Tuy nhiên tất cả các công trình này đều mang tính khái quát về hình thái cấu trúc của khu vực lớn, chưa có những nghiên cứu cụ thể. Sau năm 1975, với sự hỗ trợ tích cực của các nhà địa chất Liên Xô, công tác nghiên cứu địa chất và khoáng sản được tiến hành mạnh mẽ và khá bài bản.

Trong các công trình đo vẽ địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1:200.) đã phân chia, chính xác hóa ranh giới các thành tạo địa chất, phát hiện, mô tả nhiều điểm khoáng sản. Mặc dù còn có nhiều quan điểm về cấu trúc - kiến tạo, nhưng thành phần vật chất các thành tạo địa chất trong vùng nghiên cứu, về cơ bản, đã có sự thống nhất của nhiều tác giả. Về mặt địa chất và khoáng sản, các công trình nghiên cứu chi tiết về khu vực như là: - Công trình “Đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản nhóm tờ Đắk Tô tỷ lệ 1:50. Trên cơ sở các tiền đề địa chất và các dấu hiệu về trọng sa, địa hoá, kiến tạo các tác giả đã đánh giá và phân 7 vùng triển vọng khoáng sản ở khu Ngọc Tụ như sau: Phía đông, đông nam của diện tích nghiên cứu thuộc đới quặng Tu Mơ Rông, trường quặng wolfram - molipden Ngok Loak, có triển vọng B1 với khoáng sản trọng tâm là wolfram, molipden, bismut và xạ - hiếm.

Phía tây nam và nam của diện tích nghiên cứu thuộc đới quặng Ngọc Hồi, trường quặng vàng - bạc - đá quý Ngọc Tụ và được đánh giá triển vọng B1 với khoáng sản trọng tâm là vàng, bạc, (corindon, saphyr). Kết quả công tác đo vẽ bản đồ đã phát hiện điểm khoáng hoá molipden-wolfram-bismut Đak KơSa trong diện tích Ngọc Tụ. Khoáng hoá thuộc thành hệ greisen wolfram-molipden-thiếc. Theo các tác giả thì đặc điểm quặng hóa, quy mô và triển vọng của chúng chưa được hoàn toàn làm rõ và kiến nghị cần tiến hành tìm kiếm chi tiết tỷ lệ 1:25.000 trên diện tích vùng Đak Kơ Sa với các đối tượng khoáng sản chính là wolfram, molipden, ngoài ra có thể kết hợp đánh giá triển vọng của bismut, vàng.

- Công trình “Nghiên cứu kiến tạo và sinh khoáng Nam Việt Nam” (Nguyễn Xuân Bao và Nguyễn Tường Chi, 2000) đã mô tả theo nguyên tắc thành hệ trên cơ sở thành phần vật chất và hệ thống hóa theo lĩnh vực sử dụng; - Công trình “Nghiên cứu điều kiện thành tạo và quy luật phân bố khoáng sản quý hiếm liên quan đến hoạt động magma khu vực miền Trung và Tây Nguyên” (Trần Trọng Hòa và nnk, 2005) [4] có nghiên cứu khoáng hóa vàng và molipdenit ở granitoid khối Ngọc Tụ với kết quả về thành phần nguyên tố hiếm trong đơn khoáng, nồng độ NaCl trong bao thể, đồng vị bền S trong pyrit cho thấy quặng hóa đặc trưng nguồn dung dịch nhiệt dịch từ dưới sâu lên, còn đồng vị tuổi của quặng hóa tương ứng Trias giữa, - Công trình “Nghiên cứu sinh khoáng và dự báo triển vọng khoáng sản đới cấu trúc - kiến tạo Pô Cô” (Dương Đức Kiêm và nnk, 2006) [3] đã phân ra các đới khoáng hóa, các trường khoáng hóa, các kiểu thành hệ quặng nội sinh. Trong đó, vùng nghiên cứu có trường khoáng hóa wolfram Ngọc Tụ được đặc trưng bởi thành hệ thạch anh - wolframit; ngoài ra có biểu hiện khoáng hóa molipden. Theo các tác giả này, vùng nghiên cứu nằm trong đới Pô Cô thuộc đới “kiến trúc Kon Tum” gồm các thành tạo biến chất hệ tầng Tắc Pỏ, phức hệ Diên Bình, phức hệ Hải Vân, phức hệ Bà Nà, hệ tầng Kon Tum. - Của Trần Hoàng Vũ (2014) [21] nghiên cứu hoạt động kiến tạo Indosini và 8 tiến hóa magma đới khâu Pô Cô đã làm rõ tuổi và cơ chế thành các phức hệ xâm nhập trong khu vực, đồng thời cho rằng granitoid Ngọc Tụ có khả năng tạo quặng Cu-Mo porphyr.

- Công trình “Kiểm tra chi tiết cụm dị thường địa vật lý máy bay vùng Ngọc Tụ, tỉnh Kon Tum” (Nguyễn Trường Giang và nnk, 2001) [2] đã đánh giá thấy các dị thường xạ trong tầng aluvi, phân bố dọc các bãi bồi thềm sông, suối, liên quan đến các thành tạo sa khoáng monazit, ilmenit và zircon, 8 dị thường liên quan đến các mạch aplit nằm trong khối magma granitoid bị biến đổi nứt nẻ Bà Nà và phức hệ Quế Sơn. Đồng thời đã phát hiện các điểm quặng, điểm khoáng hoá molipden (các khoáng sản đi kèm là đồng, bismut, wolfram) ở Đak Dé và mỏ đá Ngọc Tụ có liên quan đến các dải dị thường phổ gamma phân bố dọc các đới cà nát, dập vỡ của đới nội, ngoại tiếp xúc của các đá granit biotit hạt nhỏ pha 2 phức hệ Bà Nà với các đá biến chất hệ tầng Tắc Pỏ, Đak Hơniang. Bước đầu đã xác định được các điểm khoáng hoá tạo thành đới có kích thước tương đối lớn, chiều dài từ vài trăm mét (mỏ đá Ngọc Tụ) đến vài km (ở Đak Dé) (phần trên mặt), chiều rộng thay đổi từ vài mét đến vài chục mét. Mặc dù kết quả phân tích mới chỉ có một số mẫu đạt hàm lượng công nghiệp tối thiểu nhưng đây là các tiền đề và dấu hiệu để phát hiện khoáng sản tương tự ở các khu vực lân cận trong khối granitoid phức hệ Bà Nà.

- Công trình “Nghiên cứu chuyên hóa địa hóa molipden các thành tạo granitoid kiểu Bà Nà và tiềm năng sinh khoáng Mo của chúng” của Nguyễn Văn Niệm và nnk (2018) [9] xác định granitoid khối Ngọc Tụ có liên quan đến tiềm năng sinh molipden trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp nhiều loại thành phần vật chất của đá. Như vậy, các công trình nghiên trước đây chủ yếu phục vụ cho đo vẽ bản đồ địa chất, tìm kiếm khoáng sản và tính chuyên hóa địa hóa của Mo và một số nguyên tố khác mà chưa đánh giá đầy đủ về tính chuyên hóa sinh khoáng (khả năng sinh quặng) và mức độ bóc mòn của khối granitoid Ngọc Tụ.1: Sơ đồ vị trí phân bố granitoid khối Ngọc Tụ trên bình đồ cấu trúc khu vực [33] 10 Hình 1.2: Sơ đồ địa chất khu vực Ngọc Tụ, Đắk Tô, Kon Tum [6] 11 1. Đặc điểm địa chất và khoáng sản khu vực Ngọc Tụ. Địa tầng Theo tài liệu bản đồ địa chất 1:50.000 của Nguyễn Quang Lộc và nnk (1998) [6] các thành tạo địa tầng phân bố trong khu vực nghiên cứu bao gồm.

Hệ tầng Tắc Pỏ (PR1-2 tp) Hệ tầng Tắc Pỏ được Nguyễn Xuân Bao, Trịnh Long và nnk (1996) xây dựng trên cơ sở hệ tầng Đak My và xếp và phức hệ Ngọc Linh có tuổi Paleo- Mesoproterozoi. Trong diện tích nghiên cứu chúng phân bố ở phía bắc và phía đông với diện tích khoảng 70 km2. Thành phần vật chất hệ tầng bao gồm 2 tập như sau: Tập 1: gneisbiotit, gneis biotit chứa granat, plagiogneis biotit, gneis 2 mica; lớp mỏng gneis amphibol, amphibolit, gneis pyroxen, quarzit biotit. Tập 2: gneis 2 mica, gneis biotit ( granat) hạt nhỏ, plagiogneis biotit, đá phiến thạch anh - felspat - mica ( granat), đá phiến thạch anh - felspat - 2 mica - silimanit, đá phiến thạch anh - biotit ( disten), đá phiến thạch anh - biotit (cordierit), đá phiến thạch anh - biotit - silimanit, đá phiến thạch anh - felspat - mica - graphit; lớp mỏng quarzit mica, thấu kính amphibolit.

Tổng bề dày của hệ tầng Tắc Pỏ khoảng 1900 - 2150m. Hệ tầng Đắk Hơniang (PZ1 đhn) Các đá biến chất hệ tầng Đắk Hơniang phân bố hẹp phía tây nam của phạm vi nghiên cứu, chúng tạo thành 2 dải chính kéo dài phương tây bắc - đông nam có diện tích tổng cộng khoảng 40km2. Thành phần vật chất hệ tầng bao gồm 2 tập như sau: Tập 1: Đá có thành phần chủ yếu là plagiogneis biotit - amphibol, plagiogneis biotit ( granat) hạt nhỏ. Tập 2: Đá có thành phần là phiến thạch anh - plagiocla - 2 mica, đá phiến thạch anh - 2 mica - silimanit ( granat), đá phiến amphibol hạt nhỏ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ