CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Vấn đề nghiên cứu Áp lưc taì chiń h luôn tạo ảnh hưởng đến sự phat́ triển của hệ thống ngân haǹ g. Điều này dẫn tới xu hướng thay đổi dich chuyển từ các hoat đông ngân hàng truyền thống sang các hoat đông ngân hàng phi truyền thống. Trong quá trình chuyển dịch này, vấn đề biêt cần ̣ quan tâm ở đây chính là đa dan ̣ g hóa (ĐDH).
Vấn đề đầu tiên đăc cần cân nhắc khi đề cập đến tać đông cuả ĐDH đối vơí hoat đôṇ g cuả ngân haǹ g đo chính là cơ chế phò ng vê ̣ rủ i ro phá sả n, từ đó là m tăng khả năng canh tranh và tá c đông trưc tiếp tơi hiêu quả đông kinh doanh (HQHĐKD) (Froot và ctg, 1993; ́ hoat Froot và Stein, 1998). Tiếp đến, ĐDH có thể cung cấp vai trò củng cố hoat đông của ngân haǹ g, giaỉ quyết cać mâu thuẫn cuả thông tin bất cân xứ ng, từ đó giuṕ caỉ thiêṇ các kế hoạch phát triển của hê ṭ hống và tăng HQHĐKD (Baele và ctg, 2007). Tuy nhiên, thực tế có quan điểm ngược lại cho vấn đề này, đó chính là ĐDH co thể tać đông tiêu cưc đến HQHĐKD của ngân hàng. Đề câp trong bối cảnh cac ngân ́ haǹ g ở My, DeYoung và Roland (2001) phát hiện sự thay đổi/dich chuyển từ những hoaṭ đông truyề n thố ng sang cá c dich vu ̣ tà i chính phi ngân hà ng đã tao ra nhữ ng biế n đông cao cho doǹ g tiền, lam ̀ gia tăng rủi ro doanh thu, từ đó dẫn đến suy giảm khả năng sinh của ngân haǹ g.
Theo Acharya và ctg (2006) củng cố kết quả naỳ khi thể lơi hiên đươ nhưng bất hơp ly đang tồn tai trong hoat đôn ̣ g ĐDH cua ngân hang. Điều ̃ ́ ̉ ̀ c này minh chứng rõ nét trong các quyết đinh yếu kém của lưa cho danh muc, cũng n như khả năng quản tri mong ̣ manh-tao tiền đề cho những phát sinh chi phí đaị diên, tư đó lam ̀ sut giam ̉ cuả HQHĐKD (Cerasi và Daltung, 2000). Như vậy, các nghiên cứu thực nghiệm xuất hiện 2 nhóm quan điểm đối lập nhau, một nhóm quan điểm cho rằng ĐDH tác động tích cực đến HQHĐKD, một nhóm khác có quan điểm ngược lại, ĐDH tác động tiêu cực đến HQHĐKD. Trong khi các tranh luân về quan hệ giữa ĐDH và HQHĐKD diễn ra khá sôi nổi, chưa kết thuć , thì lại xuất mô vấn đề khác luôn đươc quan tâm đó chính là rủi ro.
Khi xảy hiên t 2 ra khun̉ g hoan̉ g và cać vu tai ̣ tiếng ở Enron & Worldcom, thi trươ ̣ ǹ g taì chiń h đa cuôc đăt ra cac vấn đề về cach vân hanh va xử ly ruỉ ro. Bên cạnh đó, cac căng thẳng tai ́ ́ ̀ ̀ ́ ́ ̀ chính tại thi trươ ̣ ̀ng Mỹ cho thấy mức độ quan trọng và cần thiết của cơ chế và chất 3 lương quản lý rủi ro, trong đó rủi ro bị tać đông đối vơí quyết đinh ĐDH (Acharyavà ctg, 2009; Aebi và ctg, 2012). Theo Stiroh (2004) cho rằng với những biến đổi đa ̀ thay đổi chiều cuả khu vưc kinh tế tư nhân và cać nhân tố biến đôṇ g ruỉ ro sẽ lam những lơi ich đat đươ cuả ĐDH. Vì vâỵ , DeYoung và Rice (2004); Stiroh và ́ c Rumble (2006) ghi nhân, quyết điṇ h đánh đổi rủi ro và nhuâ do thay đổi của lơi n ĐDH, với lý do đưa ra là hoat đông ĐDH đươc hiǹ h thaǹ h từ cać nguồn lưc khać nhau của ngân hàng nên từ đó phải chiu nhưng biến đông bất ổn sự gia tăng hay sut ̃ giảm của yếu tố rủi ro.
Theo Rose (1989), việc sử dụng đặc tính ước lượng của yếu tố thị trường nghiên cứu tác động ĐDH đến rủi ro trong hệ thống NHTM, các ngân hàng nên hướng các quyết đinh của miǹ h vaò cać doǹ g sản phẩm phi truyền thống, từ đó lam ̀ giảm thiểu rủi ro về dòng tiền. Chính vì vâỵ , Templeton và Severiens (1992) đưa ra các điṇ h hướ ng ĐDH và o cá c sả n phẩ m dich vu ̣ tà i chính có khả năng là m giả m rủ i ro phi hê thống. Tuy nhiên, môt nhom cac nghiên cư u khac laị đưa ra môt quan điểm ngươc lai ́ ́ ́ ́ cho vấn đề naỳ , khi mà chi phí sẽ lấn at́ giá tri lơi ̣ ích đat đươ của hoat đông ĐDH c (Jessee và Seelig, 1977; Boyd và Graham, 1988; DeYoung và Roland, 2001). Xét về mối quan hệ HQHĐKD và rủi ro, một số nghiên cứu thực nghiệm của Petria và ctg (2015); Ayaydin và Karakaya (2014), rủi ro tác động đến HQHĐKD tại các ngân hàng đo lường bằng ROA, kết quả nghiên cứu đưa ra rủi ro tác động nghịch biến đến HQHĐKD.
Ngoài ra, nghiên cứu Gizaw và ctg (2015) đưa ra tỷ lệ nợ xấu, rủi ro DPTD có ảnh hưởng đến hiệu quả tại các ngân hàng Ethiopia. Hoặc nghiên cứu của Zou và Li (2014) có kết quả tỷ lệ nợ xấu tác động đáng kể đến ROE và ROA tại các ngân hàng lớn ở Châu Âu. Thực tiễn thời gian gần đây tại thị trường tài chính Việt Nam, môi trường hoạt động kinh doanh và thể chế hoạt động của hệ thống ngân hàng có những chuyển biến tích cực về cơ chế, chính sách, quản trị vận hành, bộ máy hoạt động, phát triển ứng dụng công nghệ, đặc biệt các ngân hàng đầu tư mạnh vào công tác nghiên cứu & phát triển sản phẩm-dịch vụ ngân hàng số (digital banking) dựa trên nền tảng công nghệ 4 hiện đại. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động do tác động từ chính trị, chiến tranh thương mại, thiên tai, dịch bệnh .nên kinh tế Việt Nam cũng 5 bị ảnh hưởng là việc không tránh khỏi và cũng là quy luật chung.
Do đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam gặp nhiều thách thức không nhỏ do những biến động hay bất ổn kinh tế đã gây ra, các NHTM Việt Nam không những cạnh tranh lẫn nhau mà còn bị cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng nước ngoài. Đặc biệt, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam từng bước được mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh, các hạn chế đối với hoạt động áp dụng dần được gỡ bỏ, mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng càng trở nên khốc liệt hơn. Trước bối cảnh này, các nhà quản trị ngân hàng cần tìm ra đường lối, chính sách kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh để ngân hàng hoạt động ổn định và phát triển bền vững, cụ thể NHTM gia tăng HQHĐKD gắn liền với quản trị rủi ro. Một trong những công cụ hữu hiệu giúp các NHTM Việt Nam thực hiện việc này, đó là ĐDH các hoạt động chính yếu ngân hàng.
Đối với hoạt động tiền gửi, các NHTM VN luôn chú trọng chính sách thu hút nguồn vốn và ĐDH danh mục nguồn vốn huy động vì tầm quan trọng công tác này trong hoạt động ngân hàng. Hiện tại, các NHTM VN chủ yếu dựa vào hệ thống mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch sẳn có và đối tượng khách hàng mục tiêu là khách hàng cá nhân để thu hút nguồn vốn phục vụ cho vay mang HQHĐKD ngân hàng. Đối với hoạt động tín dụng, tài sản, thu nhập của ngân hàng, đặc thù kinh doanh của NHTM Việt Nam, nguồn thu chính cho ngân hàng vẫn là hoạt động cho vay. Hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu chính yếu nhưng cũng gây rủi ro nghiêm trọng đến các NHTM Việt Nam.
Hiện tại, các NHTM Việt Nam vẫn thực thi chính sách tập trung tín dụng để tác động tăng HQHĐKD, tuy nhiên các NHTM Việt Nam đã có định hướng kinh doanh thay đổi tăng dần tỷ trọng nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng trong cơ cấu thu nhập, tránh phụ thuộc quá nhiều vào nguồn thu tín dụng. Bên cạnh đó, các NHTM thực hiện ĐDH tài sản để khai thác danh mục tài sản ngân hàng sinh lời hiệu quả hơn và giảm thiểu rủi ro ngân hàng. Cuối cùng, ĐDH thu nhập đóng vai trò quan trọng đối với các NHTM Việt Nam, để tăng HQHĐKD và quản trị rủi ro, cơ cấu thu nhập ngân hàng thay đổi chuyển dần từ lĩnh vực tín dụng sang lĩnh vực phi tín dụng. Vì tầm quan trọng và sự cần thiết thực tiễn trong bối cảnh hoạt động ngân hàng hiện tại nên luận án lựa chọn nghiên cứu mối quan hệ ĐDH (bao gồm tiền gửi, tín dụng, tài sản, thu nhập), HQHĐKD, rủi ro ngân hàng.
6 Lược khảo tình hình các nghiên cứu thực nghiệm trong nước về ĐDH và HQHĐKD, Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) nghiên cứu tại 37 NHTM ở VN trong giai đoan 2006-2013, kết quả đưa ra ĐDH thu nhập tác động tăng lợi nhuận; Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) nghiên cứu với dữ liệu 22 NHTM Việt Nam, giai đoạn 2007-2013, kết quả ĐDH thu nhập tác động đồng biến với khả năng sinh lời ngân hàng. Ngược lại, nghiên cứu của Nguyễn Minh Sáng và Trần Thị Thùy Linh (2018) đưa ra kết quả tỷ lệ lãi cận biên tác động nghịch biến đến ĐDH thu nhậ p tại 152 NHTM tai 5 quốc gia khu vực Asean (Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Việt Nam), giai đoan 2005-2015. Tương tự tình hình các nghiên cứu thực nghiệm tại VN về ĐDH và rủi ro, Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) nghiên cứu tại 37 NHTM VN trong giai đoan 2006-2013, kết quả ĐDH thu nhập tác động tăng rủi ro, lợi nhuận điều chỉnh rủi ro giảm, không có lợi cho ngân hàng; nghiên cứu của Nguyễn Minh Sáng và Trần Thị Thùy Linh (2018) đưa ra kết quả tỷ lệ nợ xấu tác động cùng chiều đến ĐDH thu nhập tại 152 NHTM taị 5 quốc gia Asean (Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Việt Nam), giai đoan 2005-2015. Ngược lại, theo nghiên cứu của Nguyen và Vo (2015) tại 32 NHTM, giai đoạn 2005-2012, kết quả mối tương quan có ý nghĩa giữa ĐDH cấu trúc thu nhập và rủi ro phá sản có quan hệ tác động nghịch biến.
Như vậy, các nghiên cứu tại VN chỉ nghiên cứu tác động một chiều giữa các đối tượng nghiên cứu với phương pháp ước lượng như OLS, FEM, REM, GMM, SGMM chưa xét đến tác động đa chiều/đồng thời giữa ĐDH, HQHĐKD, rủi ro như đang diễn ra thực tiễn. Nên kết quả nghiên cứu còn hạn chế, chưa gắn liền với thực tiễn hoạt động của NHTM. Vì vậy, tác giả thực hiện nghiên cứu mới, với 2 hướng tiếp cận nghiên cứu 1 chiều và đa chiều/đồng thời như đang diễn ra trong thực tiễn.