phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo. Phần nội dung chính của luận văn có cấu trúc gồm 3 chương CHƢƠNG 1: Tình hình Thành phố Huế trước khi nổ ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. CHƢƠNG 2: Chủ trương của Khu ủy Trị Thiên, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế và quá trình chỉ đạo thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968 tại Thành phố Huế. CHƢƠNG 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm.
7 CHƢƠNG 1: TÌNH HÌNH THÀNH PHỐ HUẾ TRƢỚC KHI NỔ RA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TRƢỚC TẾT MẬU THÂN NĂM 1968 1. Khái quát về đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội và truyền thống cách mạng 1. Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội Trị Thiên có phía Đông giáp biển, Tây dựa vào Trường Sơn giáp vùng giải phóng Trung Hạ Lào, có đường vận tải chiến lược 559 từ Bắc vào Nam, Nam giáp Quảng Nam – Đà Nẵng, nơi có căn cứ quân sự liên hợp lớn của Mỹ và cơ quan quân sự đầu não của Quân khu 1 Việt Nam Cộng Hòa. Trị Thiên có thể tiếp nhận nhanh nhất nguồn chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc, một đặc điểm thuận lợi hết sức quan trọng của chiến trường.
Huế là thành phố lớn thứ 3 ở miền Nam, là hậu cứ, là trung tâm đầu não quân sự, chính trị đối với toàn bộ chiến trường Trị Thiên trong thế chiến lược phòng ngự của địch ở Phân khu I – Vùng I chiến thuật. Từ biên giới Việt – Lào đến bờ biển chỉ khoảng 100 km, và từ sông Bến Hải đến đèo Hải Vân chỉ chừng 160 km, vì vậy Trị Thiên là một giải đất hẹp, vùng rừng núi, đồng bằng và thành phố Huế cũng như các thị xã, thị trấn khác nối liền với các huyện nông thôn và vùng giáp ranh. Từ các vùng căn cứ tiến vào Thành phố Huế với cự ly không xa. Lực lượng vũ trang từ căn cứ tiến vào thành phố chỉ cần 5 giờ hành quân.
Vùng rừng núi chiếm 2/3 diện tích toàn khu Trị Thiên. Phần lớn là căn cứ địa, hậu phương trực tiếp và cũng là bàn đạp tiến công địch ở nông thôn đồng bằng và thành phố. Vùng giáp ranh chạy dọc hai tỉnh, nằm giữa vùng đồng bằng thành phố và vùng rừng núi, song song và sát với Quốc lộ 1, là vùng có nhiều đồi trọc xen kẽ làng mạc tương đối trống trải. Đây là một thuận lợi để triển khai lực lượng tiến xuống đồng bằng và vào thành phố, thị xã.
Tuyến giáp ranh chạy dọc từ Bắc Nam giữa đồng bằng và rừng núi, gần trục giao thông Quốc lộ số 1, là vùng đồi trọc, xen kẽ đồi sim và mua, 8 địa hình mấp mô trung bình, tiện cho cơ giới, pháo binh địch hoạt động ngăn chặn. Vùng đồng bằng làng mạc mỏng, chia là 3 tuyến chữ nhật chạy từ Bắc vào Nam: tuyến ven biển thưa thớt và phải qua 3 đến 4 km bãi cát trắng, tuyến ven ruộng giáp cắt từ Thụy Khê đến cầu Hai; tuyến dọc các sông và 2 bên triền sông chạy dọc giữa ruộng đồng bằng, tuyến ven 2 bên đường Quốc lộ 1. Đồng bằng có nhiều sông ngòi, mương lạch chia cắt ngang dọc, khó cho hoạt động lực lượng lớn. Vùng đồng bằng các làng mạc ven biển và dọc tuyến ven ruộng giáp cắt bị địch đánh phá đi lại nhiều lần, nhưng lại là những nơi có phong trào du kích chiến tranh mạnh và đều khắp.
Ngoài Quốc lộ 1 là đường bộ duy nhất nối liền Trị Thiên với các tỉnh phía Bắc và phía Nam còn có nhiều đường cắt ngang từ đồng bằng lên giáp ranh rừng núi: Đường số 9 nối liền Đông Hà với Trung Lào, Đường số 12, Đường số 14 từ Huế, Phú Bài lên Tây Thừa Thiên và nhiều đường có thể cơ động bằng cơ giới từ các căn cứ của địch trên vùng giáp ranh nối xuống quốc lộ 1. Riêng đường số 14 là con đường được xây dựng để nối liền miền Tây Thừa Thiên với miền Tây Quảng Nam đổ xuống đèo Hải Vân đi Đà Nẵng. Nhiều sông ngòi từ Trường Sơn đổ xuống đồng bằng, trong đó đáng chú ý là sông Cửa Việt địch dùng làm đường vận chuyển từ biển vào Đông Hà, phục vụ cho tuyến Đường số 9, và sông Hương từ biển qua cảng Cửa Thuận vào Huế. Phá Tam Giang và đầm Cầu Hai với diện tích hàng chục ngàn héc ta mặt nước, chạy suốt gần hết tỉnh Thừa Thiên cùng với hệ thống sông ngòi chia cắt vùng đồng bằng, hạn chế nhiều đến việc cơ động lực lượng chiến đấu.
Có thể nói đối với địch, vùng giáp ranh và một phần đồng bằng tiện cho việc chúng cơ động nhanh bằng cơ giới, tiện cho hoạt động của máy bay và pháo binh, nhưng do mạng lưới giao thông ít, địa hình dài và hẹp nên rất dễ bị chia cắt, dễ bị bao vây và chặt ra từng khúc, tiếp tế vận chuyển khó khăn. Đối 9 với ta, vùng rừng núi là địa bàn thuận lợi nhất, vùng đồng bằng có dân và chiến tranh du kích phát triển mạnh, nên ta có thể áp đảo địch từ trên rừng xuống, và dưới đồng bằng lên, đồng thời vùng giải phóng ta rộng lớn sát liền với các đô thị, thành phố là địa bàn thuận lợi cho việc đánh chiếm thành phố. Nhưng khó khăn của ta là đồng bằng mỏng, hẹp nên sử dụng binh lực có bị hạn chế, đường Quốc lộ 1 chia cắt đồng bằng và rừng núi , nếu khi địch tập trung đông chiếm tuyến giao thông đó thì việc đi lại giữa hai vùng gặp nhiều khó khăn. Thành phố Huế chia làm 2 khu vực Bắc – Nam, chia cắt bởi con sông Hương rộng từ 250 – 400 m chạy từ núi đến Thuận An và nối liền giữa 2 khu vực là 2 cầu lớn: cầu Tràng Tiền cho ô tô chạy cầu Bạch Hổ cho xe lửa chạy.
Khu vực Bắc Huế là một thành cổ lâu đời của các triều nhà Nguyễn, kiến trúc theo kiểu thành cao, hào sâu kiên cố. Xung quanh là tường thành đắp bằng đất, xây gạch mỗi bề trên 2m, cao 6 – 8m rộng từ 10 -20m, có 8 cổng lớn ra vào xây theo kiểu tò vò trên có chòi gác. Thành phố chia làm 4 khu vực chính: khu I là nội thành, khu 2 gồm đường Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, khu 3 gồm đường Thống Nhất và phố Lê Văn Duyệt, khu 4 ở vùng Gia Hội. Trong thành có con sông Nhị Hà chạy giữa khu nội thành từ Đông sang Tây, qua 2 cống, có đoạn lội được có đoạn chỉ còn bùn nhão.
Trong thành khu vực Đại Nội, Mang Cá có tường bao bọc xung quanh cao từ 5 – 6 m. Khu vực phía Nam Huế là thành phố kiến thiết theo kiểu châu Âu, đường sá rộng, nhà cửa to, phần lớn là nhà gạch do cơ quan ngụy quyền và bọn Mỹ đóng. Hệ thống đường sá về phía Tây – Nam nhiều, tiện cho cơ giới hoạt động. Khu Nam gọi là khu tam giác.
Nhìn chung địa hình chung quanh thành phố Huế, phía Tây là rừng núi, cách thành phố chỉ có 3 -5 giờ hành quân. Phía Bắc và phía Nam có vùng giải phóng, là cơ sở tốt để làm bàn đạp tiếp cận thành phố Huế bằng nhiều hướng. 10 Trong thành phố có thành cao, hào sâu, sông ngòi nhiều, nhà cửa kiên cố, đường sá dày đặc có lợi cho phòng ngự nhưng trong thành phố chiến đấu có hạn chế một phần trong chiến đấu pháo binh cơ giới đối với phía Mỹ. Dân số Trị Thiên thời gian đó có khoảng 800.000 người (Quảng Trị có 300.000 và Thừa Thiên 500.000), vùng nông thôn đồng bằng gần 55.000, riêng Thành phố Huế có gần 150.000 người, vùng rừng núi chỉ có 50.000, phần lớn là đồng bào dân tộc ít người.
Truyền thống cách mạng Thừa Thiên Huế là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa lâu đời và truyền thống yêu nước đấu tranh cách mạng vẻ vang. Trong lịch sử, Thừa Thiên Huế từng là “Phên dậu thứ tư về phương Nam” của nước Đại Việt, nơi “Đô hội lớn của phương”. Thừa Thiên Huế từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, là kinh đô của cả nước…Nơi đây luôn giữ vị trí chiến lược quan trọng trong các phong trào yêu nước của dân tộc. Một vùng đất đóng vai trò cầu nối giữa hai miền Bắc-Nam.
Từ cuộc đấu tranh chống giặc Minh đầu thế kỷ thứ XV, đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã để lại biết bao sự kiện, địa danh, con người với những chiến thắng vĩ đại và hào hùng trong lịch sử dân tộc. Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX Thừa Thiên Huế là một trong những trung tâm sôi động của các cuộc vận động yêu nước và cách mạng…là cái nôi hoạt động của nhiều chiến sĩ, đảng viên cộng sản, là nơi ghi dấu sự ra đời của một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ những năm 1927 nhân dân đã có Đảng Việt nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội – tiền thân của Đảng Cộng sản, và đã thành lập được nhiều chi bộ. Tháng 4-1930, Tổ chức Đông dương Cộng sản Đảng và Đông dương Cộng sản liên đoàn hợp nhất thành tỉnh Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông dương Thừa Thiên Huế.
Lịch sử đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng quê hương của nhân dân Thừa Thiên Huế bước sang thời kỳ mới mà đỉnh cao là cuộc vận động giải phóng 11 dân tộc (1940 – 1945) và phát động cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng thắng lợi. Với khí thế “Cách mạng Tháng Tám” nhân dân Thừa Thiên Huế đã vùng dậy lật đổ ngai vàng của chế độ phong kiến và ách thống trị hàng nghìn năm của thực dân đế quốc, mở ra kỷ nguyên phát triển mới trong lịch sử dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, những địa danh: Dương Hòa, Hòa Mỹ, Hói Mít, Thanh Hương – Mỹ Xuyên, Thanh Lam Bồ. ghi dấu bao chiến công oanh liệt, là vùng đất từng chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh, chịu đựng nhiều hy sinh mất mát: nhiều di tích, địa điểm di tích: nhà ở, đình, đền.
đã trở thành các trụ sở liên lạc, hội họp.Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, truyền thống đấy tiếp tục được phát huy. Đến năm 1965 phong trào chiến tranh du kích đã phát triển đều và có những vùng khá mạnh. Quần chúng cách mạng bất khuất, kiên cường được tôi luyện dày dạn trong chiến tranh. Nhân dân vùng đồng bằng giải phóng trải qua 22 năm đấu tranh vô cùng gian khổ, quyết liệt.