Mở đầu. Cơ sở lý luận và pháp lý của kiểm kê đất đai. Thực trạng kiểm kê đất đai trên địa bàn phường 8, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm kê đất đai.
- Kết luận và kiến nghị. - Danh mục tài liệu tham khảo. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VA PHAP LY CUA KIEM KE DAT DAI 1. Cơ sở lý luận của kiểm kê đất đai 1.
Các khái niệm chung Theo khoản 18 điều 3 Luật đất đai 2013 quy định: “Kiểm kê đất đai là việc Nhà nước tô chức điều tra, tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê”. Có thể hiểu rằng kiểm kê đất đai là hoạt động của chủ thể sở hữu đất đai, mà “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” (trích điều 4 Luật đất đai 2013 về sở hữu đất đai), qua đó cho thấy kiểm kê là hoạt động của Nhà nước, được dùng làm công cụ đề quản lý hành chính giúp Nhà nước quản lý và sử dụng quỹ đất một cách có hiệu quả, làm cơ sở cho việc lập, điều chỉnh và đưa ra những quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Ngoài ra, kiêm kê đất đai là một hoạt động mang tính kỹ thuật và tính pháp lý. Tính kỹ thuật thể hiện trong công tác kiểm kê đất dai thông qua việc thu thập số liệu, phân tích, so sánh, đối chiếu và đánh giá số liệu, tài liệu bằng các bảng biểu bao gồm các chỉ tiêu kiểm kê đất đai để thấy được sự thay đổi giữa hai lần kiểm kê.
Từ việc thể hiện số liệu bằng bảng biểu được quy định tại Thông tư 28/2014/TT - BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất đã thấy được tính pháp lý trong kiểm kê đất đai. Thời điểm thực hiện kiếm kê đất đai là mốc thời gian được quy định cụ thể thống nhất tại tất cả các đơn vị hành chính cấp xã trong phạm vi cả nước dé tiến hành điều tra kiểm kê đất đai. Theo điều 6 khoản I Thông tư 28/2014/TT - BTNMT quy định thì “Thời điểm kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất định kỳ 05 năm được tính đến hết ngày 31 tháng 12 của năm có chữ số tận cùng là 4 và 9”. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất là bản đồ chuyên đề được thành lập theo đơn vị hành chính các cấp thể hiện thực tế khách quan vé su phan bố, hiện trạng sử dụng các loại đất với đầy đủ các thông tin về hiện trạng như ranh giới, vị trí, số lượng, diện tích các loại đất.
và theo quy định về chỉ tiêu kiểm kê theo mục đích sử dụng đất ở một thời điểm nhất định. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất các cấp đều được thành lập trên mặt phẳng chiếu hình, múi chiếu 3° có hệ số điều chỉnh tỷ lệ biến dạng chiều dài k = 0.9999, kinh tuyến trục của từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được quy định tại Phụ lục số 04 kèm theo Thông tư 28. Vị trí vai trò của kiểm kê đất đai Đối với mỗi công tác trong quản lý của Nhà nước về đất đai đều có một vị trí, vai trò nhất định. Công tác kiểm kê đất đai ra đời đóng vai tro quan trong phuc vu yéu cau quan ly Nhà nước.
về đất đai, giúp Nhà nước tông hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính với thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điêm kiểm kê 6 và tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê. Thực hiện kiểm kê đất đai phải tuân theo các chỉ tiêu, quy trình được quy định tại Luật đất đai 2013, Thông tư 28/2014/TT — BTNMT va chi thị của Thủ tướng Chính phủ ban hành cùng với đó là sự chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời của Ủy ban nhân dân các cấp, sở, ban ngành địa phương. Sau mỗi kỳ kiểm kê, Nhà nước đánh giả được thực trạng sử dụng đắt, quản lý đất và biên động đất đai trong vòng 5 năm dé từ đó đề xuất cơ chế, chính sách định hướng sử dụng hợp lý, quản lý chặt chẽ, phát triển bền vững phù hợp với thực tế nhằm khai thác tối đa khả năng sinh lợi từ đất đai. Số liệu kiểm kê làm căn cứ xây dựng bản đồ quy hoạch sử dụng đất từ đó phục vụ công tác lập, điều chỉnh, quản lý, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương trong tương lai, phục vụ các nội dung khác của công tác quản lý nhà nước về đât đai.
Nếu nắm được tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt cũng như là việc đo đạc, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyên sử dụng đất thì sẽ đề xuất được các biện pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước về đất đai, điều chỉnh, khắc phục những bất cập còn tồn tại trong chính sách đất đai cho giai đoạn. Công tác kiểm kê đất đai có chính xác thì công tác quản lý Nhà nước về đất đai mới đạt hiệu quả cao, quỹ đất đai hiện có mới được sử dụng tiết kiệm, hợp lý. Số liệu kiểm kê đất đai còn có tác động đến quá trình phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là trong cơ chê phân vùng sản xuât, phân bô dân cư và lực lượng sản xuất. Nó cung cập số liệu để xây dựng niên giám thống kê các cấp và phục vụ nhu cầu thông tin đất đai cho các hoạt động kinh tế - xã hội, , quôc phòng, an ninh, nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo và các nhụ cầu khác của Nhà nước và xã hội.
Từ đó đưa ra định hướng phát triên, phân bô quỹ đât dai hop ly cho các ngành quan trong nham phuc vụ mục tiêu chung là phát triên đât nước. Kiểm kê đất đai 2014 sẽ là cơ sở cho kì kiểm kê đất đai 2020. Hệ thỗng phân loại đất dai Thực tế quản lý đất đai ở nước ta tồn tại 2 hệ thống phân loại đất đai dựa trên các nguyên tặc phân loại khác nhau: Nguyên tắc quan hệ là nguyên tắc phân loại quỹ đất thành các loại đất đai theo mục đích sử dụng chính, loại đất đai được hiểu như là một hệ thống các loại hình sử dụng đất đai có mối quan hệ qua lại tương hỗ với nhau, trong quá trình sử dụng cho một mục đích được xác định. Để phân loại đất theo nguyên tắc quan hệ cần căn cứ vào tính chất mối quan hệ qua lại giữa các loại hình sử dụng đất đai, vào những tính chất của hệ thống đề phân biệt loại đất đai.
Nguyên tắc tương đồng là nguyên tắc phân loại hay còn gọi là nguyên tắc phân nhóm, tức là nhóm của thửa đất. có một đặc tính giống nhau nào đó vào cùng một loại, không quan tâm đến mối quan hệ hay đến những đặc tính của hệ thống. Điển hình như đất nông nghiệp là đất có vai trò là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông lâm nghiệp thì gọi là nhóm đất nông nghiệp. Nếu đất đai có chức năng làm cơ sở không gian bố trí lực lượng sản xuất, phát triển đô thị là nhóm đât phi nông nghiệp.
Hình thức thực hiện kiểm kê đất đai Có hai hình thức kiểm kê đất đai chính là kiểm kê đất đai theo định kỳ và kiểm kê đất đai theo chuyên đề. Kiểm kê đất đai định kỳ được thực hiện theo đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn và được tiễn hành 05 năm một lần, gắn với việc thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Kiểm kê đất đai theo chuyên đề đề thực hiện yêu cầu quản lý Nhà nước thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về một nội dung nào đó trên phạm vị cả nước hay tại một số địa phương nhất định. Phương pháp kiểm kê đất đai _ Tùy vào điều kiện và khả năng thu thập thông tin mà các số liệu kiểm kê đât đai được hình thành băng phương pháp trực tiêp hay phương pháp gián tiêp.
Phương pháp trực tiếp là phương pháp hình thành nên các số liệu kiểm kê đất đai dựa trên kết quả đo đạc, lập bản đồ, đăng ký đất đai và cập nhật chỉnh lý biến động đất đai qua mỗi thoi ky 5 nam. Tuy theo từng vùng miện với các điều kiện cơ sở vật chất, tài liệu, số liệu khác nhau mà có các phương pháp kiểm kê khác nhau cho từng địa phương như kiểm kê đất đai từ kết quả đăng ký đất đai ban đầu, kết quả đăng ký biến động thường xuyên sau khi đăng ký ban đầu, kết quả đo đạc lập bản đô nhưng chưa đăng ký ban đầu. Phương pháp này cung cấp số liệu kiểm kê khá chính xác, được thiết lập từ cấp cơ sở và phù hợp với những biến động đất đai trên thực địa. Phương pháp gián tiếp là phương pháp dựa vào nguồn số liệu (rung gian sẵn có để tính toán ra các số liệu kiểm kê đất đai.
Phương pháp này thiếu chính xác và cơ sở pháp lý. Đây là phương pháp duy nhất đề xác định được các số liệu kiểm kê về đất đai ở những nơi chưa có điều kiện tiễn hành công tác đo đạc lập bản đồ, hoặc các thông tin biến động trong kỳ không được đăng ký, quản lý, theo dõi và cập nhật. Phương pháp gián tiếp phải sử dụng thông tin từ nhiêu nguồn khác nhau làm cơ sở gôc để tính toán, căn cứ vào đó đề chỉnh lý số liệu gốc thành số liệu của kỳ báo cáo bao gồm các biểu kiểm kê diện tích đất đai của kỳ báo cáo trước, biểu thống kê đất đai qua các năm giữa hai kỳ kiểm kê. Khái quát công tác kiểm kê đất đai từ Luật Đất đai 2003 đến nay Kỳ kiểm kê đất đai năm 2005 được thực hiện đầu tiên theo Luật đất đai 2003, đảm bảo theo yêu cầu của Thủ tướng chính phủ.
Các chỉ tiêu kiểm kê theo loại đất và các loại đối tượng sử dụng đất quy định tại Điều 9, Điều 13 của Luật Đất đai năm 2003.