MỞ ĐẦU Theo báo cáo của Tổng cục môi trường năm 2019 lượng chất thải sinh hoạt phát sinh ước đạt 64658 tấn/ngày, thêm vào đó ước tích trung bình lượng chất thải rắn sinh hoạt tăng 10 - 16 % mỗi năm. Từ đó tạo ra gánh nặng cho công tác quản lý và xử lý chất thải rắn. Hiện nay, công nghệ xử lý chất thải rắn chủ yếu vẫn là chôn lấp với khoảng 660 bãi chôn lấp ở Việt Nam, tuy nhiên chỉ có 30% được phân loại là bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Kỹ thuật đốt rác phát điện từng có lịch sử nghiên cứu phát triển hơn 30 năm trở lại đây, nhiều nhà máy ở Đức (32% lượng rác được xử lý bằng phương pháp đốt rác phát điện), Đan Mạch (70%), Bỉ (29%), Pháp (38%).
đã trở thành hình mẫu cho ngành công nghệ “năng lượng và bảo vệ môi trường” này. Ở châu Á, Singapore (100% lượng rác được xử lý bằng đốt rác phát điện) và Nhật Bản (72,8%) là hai nước đi đầu trong kỹ thuật đốt rác phát điện. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành nhà máy đốt rác phát điện cũng phát sinh nhiều loại chất thải. Nước thải từ các nhà máy điện – rác thường phát sinh từ quá trình ủ rác sơ bộ trước khi đưa vào hệ thống lò đốt do đó, nước thải có nồng độ chất ô nhiễm rất cao.
Thông thường, nước rỉ rác nói chung và nước rỉ rác từ nhà máy điện - rác nói riêng thường có hàm lượng chất ô nhiễm hữu cơ rất cao do sự phân hủy của rác thải trong công đoạn ủ rác. Nếu thải trực tiếp ra môi trường sẽ phân hủy trong môi trường khiến oxi trong nước bị giảm đột ngột. Từ đó dẫn đến các “con sông chết” với hàm lượng oxi hòa tan trong nước bằng 0. Thêm vào đó, trong nước ri rác chứa rất nhiều các hợp chất nito, photpho, lưu huỳnh,.
khi đi vào thủy vực có điều kiện yếm khí có thể gây các mùi khó chịu. Các thành phần kim loại nặng cũng là một trong số các yếu tố gây độc cho môi trường. Tóm lại, việc xử lý nước rỉ rác là cần thiết và rất quan trọng, có ý nghĩa lớn về mặt môi trường. Việc xử lý nước rỉ rác từ các nhà máy điện rác từ lâu đã được quan tâm nghiên cứu.
Tại Việt Nam, dự án nhà máy điện rác Sóc Sơn nằm trong Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Sóc Sơn, được UBND thành phố Hà Nội chấp thuận chủ trương từ năm 2017, tổng mức đầu tư khoảng 7000 tỉ đồng. Dự án chính thức được khởi công từ tháng 9 năm 2019 đến này đã đi vào hoạt động. Với công suất 4000 tấn/ngày, nhà máy điện rác phần nào đã giải quyết được vấn đề phát thải chất thải rắn sinh hoạt. Tuy nhiên, lượng nước rỉ rác phát sinh trong quá trình vận hành nhà máy cũng lên đến 1400 m3/ngày.
Vấn đề đặt ra là việc lựa chọn công nghệ xử lý nước rỉ rác sao cho phù hợp với bối cảnh tại Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn khi nước rỉ rác có thành phần ô nhiễm phức tạp, hàm lượng cao. Với lợi thế là nhà máy điện rác có khả năng đốt cháy hoàn toàn các chất thải có nguồn gốc hữu cơ nên các phương pháp xử lý sinh học được ưu tiên khi bùn thải được xử lý hoàn toàn bằng phương pháp đốt. Các phương pháp hóa lý không khuyến khích sử dụng do bùn thải hóa lý có thành phần trơ cao, không thể đốt hoàn toàn. Tuy nhiên, với nước rỉ rác có hàm lượng ô nhiễm hữu cơ lớn rất dễ có thể gây ra hiện tượng “sốc tải” gây hại cho hệ vi sinh vật.
Vì vậy, cần nghiên cứu kĩ trước khi tiến hành xây dựng tránh các rủi ro không đáng có. Trong khuôn khổ luận văn này, một số phương pháp xử lý sinh học xem xét nghiên cứu xử lý nước rỉ rác từ nhà máy điện – rác dựa trên cơ sở sử dụng các phần mềm mô phỏng. Việc lựa chọn công nghệ dựa trên cơ sở nghiên cứu thực tế đã áp dụng tại các nước phát triển được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Tính mới của đề tài nằm ở thông số ô nhiễm được lấy từ số liệu thực tế tại nhà máy điện – rác Sóc Sơn, từ đó làm căn cứu thiết kế cho các nhà máy điện rác được xây dựng sau này.
Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu lựa chọn công nghệ xử lý nước rỉ rác phát sinh từ nhà máy điện rác. Phạm vi nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu: nước rỉ rác phát sinh từ nhà máy điện rác - Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết. Nội dung nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu trên, các nội dung nghiên cứu sau đây cần thực hiện: - Chất thải rắn sinh hoạt, công nghệ chôn lấp và sự hình thành nước rác. - Thu thập các số liệu về thành phần nước rác trên thế giới và ở Việt Nam.
- Tổng hợp các sơ đồ về công nghệ xử lý nước rỉ rác trên thế giới và Việt Nam. - Phân tích, lựa chọn các nhóm, loại hình công nghệ đặc trưng phù hợp cho xử lý nước rác. - Mô phỏng tính toán động học và các thông số công nghệ của từng nhóm công nghệ đã lựa chọn. - Dựa trên ứng dụng mô hình Biowin để lựa chọn công nghệ phù hợp nhất.
Phương pháp nghiên cứu: • Phương pháp điều tra thu thập số liệu - Tìm hiểu thu thập các nguồn tài liệu trong nước và ngoài nước liên quan đến tính chất và công nghệ xử lý nước rác. • Phương pháp phân tích tổng hợp - Thu thập các tài liệu như tiêu chuẩn, các phương pháp xử lý nước rỉ rác của các nước trên thế giới, các phương pháp xử lý nước rỉ rác tại BCL ở Việt Nam. - Tìm hiểu về thành phần tính chất của nước rỉ rác trên thế giới và ở Việt Nam. - Tìm hiểu về mô hình Biowin có khả năng ứng dụng trong việc lựa chọn công nghệ xử lý nước rác phù hợp.
• Phương pháp chuyên gia - Tham vấn ý kiến của giảng viên hướng dẫn và các chuyên gia trong ngành công nghệ môi trường xử lý nước thải. • Phương pháp nghiên cứu lựa chọn công nghệ xử lý - Phân tích, lựa chọn các nhóm, loại hình công nghệ đặc trưng phù hợp cho xử lý nước rác. - Mô phỏng tính toán động học và các thông số công nghệ của từng nhóm công nghệ đã lựa chọn. - Ứng dụng mô hình Biowin để lựa chọn công nghệ xử lý nước rác phù hợp nhất.
Ý nghĩa khoa học của đề tài: - Cung cấp một nguồn tham khảo về phương pháp lựa chọn công nghệ cho các nhà quản lý, thiết kế trong công tác xử lý nước rỉ rác. - Đưa ra công nghệ phù hợp cho việc xử lý nước rỉ rác bằng phương pháp sinh học phù hợp với nhà máy điện – rác. TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC TỪ NHÀ MÁY ĐỐT RÁC SINH HOẠT 1.1 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt 1.1 Hiện trạng phát sinh Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) được hiểu là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sinh sống, hoạt động, kinh doanh và sản xuất của con người và động vật. Các nguồn phát sinh CTRSH bao gồm [1]: - Hộ gia đình.
- Khu thương mại, dịch vụ (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ…). - Khu công cộng (nhà ga, bến tàu, bến xe, sân bay, công viên, khu vui chơi giải trí, đường phố…). - Dịch vụ vệ sinh (quét đường, cắt tỉa cây xanh…). - Các hoạt động sinh hoạt của cơ sở sản xuất.
Giai đoạn 2016- 2020, lượng CTRSH phát sinh tiếp tục gia tăng trên phạm vi cả nước. Ước tính lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị trên toàn quốc tăng trung bình 10 - 16 % mỗi năm. Đến năm 2019, ước tính lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là 64658 tấn/ngày (khu vực đô thị là 35624 tấn/ngày và khu vực nông thôn là 28394 tấn/ngày), tăng 46% so với năm 2010. Các địa phương có khối lượng CTRSH phát sinh trên 1000 tấn/ngày chiếm 25% (trong đó có Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phát sinh trên 6000 tấn/ngày).
Khối lượng CTRSH tăng đáng kể ở các địa phương có tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa cao và du lịch như Thành phố Hồ Chí Minh (9400 tấn/ ngày), thủ đô Hà Nội (6500 tấn/ngày), Thanh Hoá (2175 tấn/ngày), Hải Phòng (1982 tấn/ngày), Bình Dương (2661 tấn/ngày), Đồng Nai (1885 tấn/ngày), Quảng Ninh (1539 tấn/ngày), Đà Nẵng (1080 tấn/ngày) và Bình Thuận (1486 tấn/ngày) [1]. Chỉ số phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại vùng TDMNPB là cao nhất với 1,20 kg/người/ngày; tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và DHMT với 1,17 kg/người/ngày; thấp nhất là vùng ĐBSCL với 0,82 kg/người/ngày. Đối với chỉ số phát sinh CTRSH nông thôn thì vùng ĐBSH là cao nhất với 0,52 kg/người/ngày, tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và DHMT với 0,51 kg/người/ngày; thấp nhất là vùng TDMNPB với 0,29 kg/người/ngày [1]. Sự phát sinh và đặc tính của chất thải là một trong những yếu tố quan trọng nhất cần cân nhắc khi lựa chọn phương pháp thu gom, công nghệ xử lý và loại bỏ cuối cùng thích hợp nhất.
Các quốc gia đang trong quá trình đô thị hóa trải qua sự gia tăng dân số và thay đổi lối sống dưới tác động của việc nhập cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị và thu nhập cao hơn, dẫn đến lượng rác thải đô thị tăng đáng kể. Tình trạng này gây ra gánh nặng lớn tại các bãi chôn lấp, đặc biệt là ở các khu đô thị lớn với số lượng bãi chôn lấp rất hạn chế [2].1 So sánh chỉ số phát sinh CTRSH giữ khu vực đô thị và nông thôn [1] 1.2 Đặc tính chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam CTRSH của Việt Nam có đặc trưng là độ ẩm cao (dao động trong khoảng 65 - 95%), độ tro khoảng 25 - 30% (khối lượng khô), (TS - Total Solid), tổng hàm lượng chất rắn bay hơi (TVS - Total Volatile Solid) dao động trong khoảng 70 - 75% (khối lượng khô), nhiệt lượng thấp (dao động trong khoảng 900 - 1.100 Kcal/kg khối lượng ướt). Thành phần chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học (thực phẩm thải) trong CTRSH của hộ gia đình chiếm tỷ lệ cao hơn các thành phần khác và thành phần này đang thay đổi theo chiều hướng giảm dần. Từ năm 1995, thành phần chất thải thực phẩm chiếm tỷ lệ rất cao (80 - 96%) nhưng đến năm 2017 thành phần này giảm xuống còn khoảng 50 - 70%; điều này thể hiện sự thay đổi lối sống của cư dân đô thị là nhanh và tiện lợi.