Chương 1: NGUYÊN LIỆU VÀ SẢN PHẨM cơ nanpceroeineserssmme — oe cose A. NGUYEN LIEU Hiểu biết sâu sắc và kỹ lưỡng về nguyên liệu sẽ đem lại lợi thế lớn cho việc gia công và sử dụng, bởi vì nguyên liệu- Đầu vào luôn luôn đóng vai trò quan trọng của bất cứ một quá trình nào. Khó có thể có sản phẩm tốt nếu.nhữ nguyên liệu xâu. Tuy nhiên, khái niệm nguyên liệu xấu hay tốt chỉ là tương đối và phụ thuộc vào công nghệ, sử dụng và sự phát triển của ngành sản xuất đó: Mặt khác, tùy theo sự phát triển của khoa-học, kỹ thuật, khả năng lợi dụng, sử dụng,.mà khái niệm nguyên liệu có thẻ thay đổi (mở rộng hoặc thu hẹp, hoặc thay đổi vệ các tiêu chí đánh giá,.
Khái niệm Công nghiệp xẻ gỗ là giai đoạn đầu tiến của quá trình chế biến cơ giới gỗ. Thông thường, nguyên liệu của lĩnh Vực sản Xuất này là gỗ tròn. Tuy vậy, cùng với sự phát triển của công nghiệp chế biến gỗ, nguyên liệu đầu vào của ngành công nghiệp xẻ đa dạng và có những yêu cầu khác nhau. Hiện nay, có 3 khái niệm khác nhau về nguyên liệu cho ngành công nghiệp xẻ gỗ, mỗi một khái niệm ứng với một yêu cầu khác nhau và ứng với điều kiện công nghệ khác nhau.
- Khái niệm 1' Nguyên liệu cho ngành công nghiệp xẻ là gỗ tròn. Với quan điểm này; tất cả các loại gỗ tròn đều được sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình xẻ. Ưu điểm nỗi bật khi chúng ta sử dụng khái niệm nay là: đễ kiếm nguyên liệu. Tuy nhiên, nhử chứng ta đã biết, gỗ tròn rất đa dạng về loài gỗ, kích thước, tính chất cơ học và vật lý khác nhau, phẩm chất khác nhau, do đó, nếu sử dụng nguyên liệu đa dạng như thế này, chúng ta sẽ vấp phải các vấn đề sau: + Quá trình công nghệ dài hơn, vì phải thêm công đoạn xử lý nguyên liệu.
16 + Sản phẩm sẽ rất đa dạng về kích thước và phẩm chất; tỷ lệ lợi dụng gỗ trong khâu xẻ rất thấp, chỉ phí xẻ có thể cao hơn giá bán sản phẩm. Do những lý do này, mà nguyên liệu xẻ theo khái niệm này chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển đầu tiên của ngành chế biến số, khi gỗ xẻ và sản phẩm mộc thông dụng là chủ yếu, bởi vì, nếu không được xẻ thì gỗ tròn chỉ làm chất đốt. Giải đoạn hiện nay, đối với các xưởng xẻ có công suất nhỏ, khái niệm nguyên liệu này vẫn hợp lý; nghĩa là tất cả gỗ tròn đều là nguyên liệu xẻ. - Khái niệm 2: Nguyên liệu cho ngành công nghiệp xẻ là các loại gỗ tròn mà đảm bảo một số yêu cầu nhất định Theo khái niệm này, không phải tất cả các loại gỗ tròn đều được sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình xẻ mà chỉ có các loại gỗ tròn thỏa mãn một.yêu câu vechat lượng được quy định theo tiêu chuẩn về nguyên liệu cho gỗ xẻ hoặc đáp ứng yêu cầu đề ra của khách hàng mới được coi là nguyên liệu xẻ.
Ưu điểm nỗi bật với quan điểm này: quá trình công nghệ xẻ sẽ ngắn hơn (vì không phải thêm các công đoạn xử lý nguyên liệu), dễ cơ giới hóa và tự động hóa quá trình sản xuất do sản phẩm it da dang hon về kích thước và chất lượng, chất lượng sản phẩm cao hơn, chi phi Xẻ sẽ thấp hơn và đương nhiên, hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn; Nhược điểm nổi bật nhất là khó tìm kiếm nguyên liệu, nhất là trong điều kiện sử dụng nguyên liệu gỗ tự nhiên. Do vậy, nguyên liệu xẻ theo khái niệm này phù hợp với giai đoạn phát. triển cao của ngành chế biến gỗ, khi ngành này được chia ra thành: Chế biến cơ giới, chế biến cơ hóa, chế biến hóa học. Mỗi một lĩnh vực của ngành chế biến gỗ sẽ cónhững yêu cầu nguyên liệu khác nhau và việc sử dụng nguyên liệu sẽ đa dạng hơn, nghĩa là, nguyên liệu sẽ có nhiều cơ hội hơn để tham gia quá trình chế biến mà trước đây:chỉ có cơ hội duy nhất là đưa vào xẻ.
- Khái niệm 3: Nguyên liệu cho ngành công nghiệp xẻ là các loại. go tron ma dam bảo một số yêu câu nhất định và một:số nguyên liệu có nguồn gốc từ gỗ. Khái niệm này được hình thành khi ngành chế biến gỗ rất phát triển, đặc biệt là lĩnh vực gỗ cấu trúc lại và biến tính gỗ. Do Vậy, ngoài những ưu điểm, đặc điểm mà có được từ quan điểm thứ 2 về ñguyên liệu, quan điểm về nguyên liệu này sẽ có những ưu nhược điểm sau đây: Nguyên liệu da dang hon, ngoài gỗ tròn còn có gỗ kết cấu lại, gỗ đã qua biến tính; chất lượng sản phẩm cao hơn; quái trình công nghệ sẽ đơn giản hơn (đặc biệt, khâu lập bản đồ xẻ với gỗ kết cấu lại, gỗ biến tính sẽ đơn giản hơn, do tính chất gỗ sẽ đồng đều hơn), do vậy, sản.
phẩm xẻ sẽ tham gia nhiều hơn vào các lĩnh vực sản xuất và sử dụng khác nhau nhiễu hơn. Tuy nhiên, loại nguyên liệu mới sẽ làm thay đổi về công cụ xẻ, quá trình công nghệ, dù răng các thay đổi này không phải dễ thực hiện. Kích thước cơ bản của gỗ tròn và phương pháp xác định 1. Đường kúuh: Do hình dạng bên ngoài gỗ tròn không tuân theo một quy luật nào cả, do vậy, “đường kính gỗ tròn” chỉ là một khái niệm quy ước.
Tuy nhiên, vì đường kính liên quan 17 đến xác định thể tích gỗ tròn, một đại lượng quan trọng trong tính toán, giao dịch, buôn bán, nên việc quy ude nay không thể tùy tiện ma phải tuân theo các căn cứ. Người ta quy ước mặt cắt ngang gỗ tròn có 3 dạng cơ bản sau đây: Hình tròn, hìnhô van và hình dạng bất kỳ. Đường kính gỗ tròn không kể vỏ, tính theo cm, được đo bằng thước cặp kim loại hoặc gỗ, chính xác đến 0,5 cm. Giá trị đường kính gỗ tròn tùy thuộc vào mặt cắt ngang của gỗ tròn, - Với gỗ tròn có mặt cắt ngang là tròn (hình 1.1): Đường kính là trị số trung bình cộng của hai đường kính vuông góc với nhau, được đoở đầu nhỏ nhất của khúc gỗ tròn, - Với gỗ tròn có mặt cắt ngang ô van (hân det) (hình 1 2): Đường kính là trị số trung bình cộng giữa hai đường kính lớn nhất và nhỏ nhất đoở đầu ñihỏ.
- Với gỗ tròn có hình dạng mặt cắt ngang không theo quy luật nào cả (bạnh vẻ hoặc bề mặt thân lồi lõm) (hình 1.3): Đường kinh là đường kínhnhỏ nhất đoở đầu nhỏ. Mặt cắt ngang ovan Hình 1. Mặt cắt ngang bất kì 18 1.2, Chiéu dai Cây gỗ tròn có thể thẳng, hoặc cong; mặt đầu của gỗ có thể vuông hoặc không vuông góc với trục dọc của nó, vì vậy, người ta quy định như sau: Chiều đài của gỗ tròn, tính bằng m, chính xác đến 0,01 m, được xác định bằng khoảng cách ngắn nhất giữa hai mat đầu khúc gỗ, đo bằng thước đo chiều dài bằng kim loại hoặc gỗ. Kích thước trung bình của gỗ tròn Để tiện lợi cho quá trình lập kế hoạch, công tác quản lý và trao đổi, buôn bán, người ta phải dựa vào các giá trị trung bình của kích thước gỗ tròn.
Vì vậy, việc xác định chính xác các kích thước trung bình của gỗ tròn có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tuy nhiên, làm thế nào để xác định đúng các giá trị trung bình của một số lượng khúc gỗ tròn? Cần xem xét các giá trị trung bình ở 2 trường hợp: - Giá trị trung bình của n khúc gỗ tròn, với n không quá lớn. - Giá trị trung bình của n khúc gỗ tròn, với n rất lớn. a) Giá trị trung bình của n khúc gỗ tròn, với n không quá lớn - Đường kính trung bình của n khúc gỗ tròn: ga dint dy td 1.+ nụ ` Hoặc được nội suy từ diện tích trung bình của mặt cắt ngang tại giữa cây gỗ tròn.
Ta có, diện tích mặt cắt ngang trung bình của n khúc gỗ tròn: al S= s5 + 6,1; +.+ S,f,), hay: zd° _ xả n+#d,`m;+.2] Trong đó: dự Đường kính trung bình của n khúc gỗ, cm k=12,.„m nị: Số khúc gỗ có đường kính dị. 19 - Chiều dài trung bình của n khúc gỗ tròn được tính theo công thức sau: Ln, 1 ath tla tet Lg — 1m rưi rẻ ẻến 5 Nn.3] Trong đó: Lạ: Chiều dài trung bình của gỗ tròn; Lj: Chiều dài của từng cấp gỗ tròn; N¡: Số cây gỗ tròn tương ứng với chiều đài L¡. b) Giá trị trung bình của n khúc gỗ tròn, với n rất lớn. Trong thực tiễn sản xuất, chúng ta cần biết chiều dài đại diện cho một tổng thể gỗ với số lượng cây hoặc số lượng khúc rất lớn, do vậy, chúng ta; hoặc không thể đo đạc hết để lấy giá trị trung bình, hoặc không cần phải đo đạc hết'eä tổng thể để xác định giá trị trung bình.
Trong trường hợp này, người fa dựa vào lý thuyết thống kế toán học để xác định giá trị trung bình. Trong tổng thẻ, ta rút ngẫu nhiên n khúc gỗ tròn, đo đạc đường kính, chiều dài của n khúc đó, áp dụng các công thức trên đê tính giá trị trung bình. Cần lưu ý, số cây hoặc số khúc gỗ tròn n cần thiết để đo đạc được xác định căn cứ vào: độ tin cậy, sai tiêu chuẩn, sai số (tương đối hoặc tuyệt đối) và được xác định theo công thức sau: 2e2 rs. 292 n= R hoặc „0= 12) [14] Trong đó: t: Dẫn xuất của độ tin cậy; X: Giá trị trung bình khi đo đạc để xác định sai số và lệch tiêu chuẩn; A: Sai số tuyệt đối; A'; Sai số tương đối; A = K, L, S: Léch tiéu chuan: 1.
Xác định thể tích gỗ tròn Thể tích của gỗ tròn là một đại lượng vô cùng quan trọng có liên quan nhiều mặt đến kỹ thuật.đời sông, kể/cả pháp luật. Trong lĩnh vực Lâm nghiệp; người ta có nhiều cách để xác định thể tích gỗ tròn. Trong điều tra rừng, thể tích cây đứng được xác định thông qua đường kính đo ở vị trí cách gốc cây 1,3 m hoặc dựa vào phương trình đường sinh thân cây. 20 Trong chế biến gỗ, chúng ta cần xác định được thể tích hiệu quả của một đoạn thân cây đứng (khúc gỗ), nên việc áp dụng phương pháp trồng điều tra rừng là không cần thiết và cũng không chính xác.
Từ 2 thông số cơ bản của gỗ tròn là đường kính và chiều dài, chúng ta có thể xác định thể tích gỗ tròn. Tuy nhiên, do hình dạng gỗ tròn không tuân theo quy luật nào cả nên: việc xác định thể tích rất khó khăn.