Luận văn thạc sĩ về vấn đề công lý trong tư tưởng triết học của John Rawls

Khám phá tư tưởng triết học của John Rawls về công lý trong luận văn thạc sĩ, phân tích sâu sắc các khái niệm và ứng dụng thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

90
9
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Những quan niệm tiêu biểu về công lý và cách tiếp cận của J

Trong lịch sử triết học, công lýcông bằng luôn được xem là những nguyên tắc cốt lõi trong các học thuyết chính trị và đạo đức. John Rawls đã đưa ra những quan niệm mới mẻ về công lý, đặc biệt là trong tác phẩm nổi tiếng "Một lý thuyết về công lý". Ông cho rằng công lý không chỉ đơn thuần là sự phân phối công bằng mà còn là một nguyên tắc đạo đức, nơi mà mọi cá nhân đều có quyền được đối xử công bằng. Rawls đã phát triển khái niệm "công lý như là công bằng" (justice as fairness), nhấn mạnh rằng một xã hội công bằng phải đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội bình đẳng để phát triển. Điều này không chỉ có ý nghĩa lý thuyết mà còn có giá trị thực tiễn trong việc xây dựng các chính sách xã hội. Rawls đã chỉ ra rằng, để đạt được công bằng xã hội, cần phải có sự phân phối hợp lý các nguồn lực và cơ hội trong xã hội.

1.1. Những quan niệm về công lý trong lịch sử triết học

Trong lịch sử triết học, công lý đã được định nghĩa và hiểu theo nhiều cách khác nhau. Từ quan điểm của các triết gia cổ đại như Plato và Aristotle, cho đến các lý thuyết hiện đại, công lý luôn gắn liền với khái niệm công bằng. Plato coi công lý là sự hài hòa giữa các phần của xã hội, trong khi Aristotle nhấn mạnh đến sự phân phối công bằng trong các mối quan hệ xã hội. Những quan niệm này đã đặt nền tảng cho các lý thuyết chính trị và đạo đức sau này. Rawls đã kế thừa và phát triển những quan niệm này, nhưng ông đã đưa ra một cách tiếp cận mới, đó là xem công lý không chỉ là một nguyên tắc mà còn là một phương pháp để xây dựng một xã hội công bằng. Ông đã chỉ ra rằng, để đạt được công lý, cần phải có sự đồng thuận giữa các cá nhân trong xã hội về các nguyên tắc cơ bản của công lý.

1.2. Cách tiếp cận của J.Rawls đối với vấn đề công lý

Cách tiếp cận của John Rawls đối với vấn đề công lý được thể hiện rõ qua khái niệm "bức màn vô minh" (veil of ignorance). Ông đề xuất rằng, trong quá trình xây dựng các nguyên tắc công lý, các cá nhân nên giả định rằng họ không biết vị trí xã hội, tài sản hay khả năng của mình. Điều này giúp họ đưa ra những quyết định công bằng hơn, vì họ sẽ không thiên vị cho lợi ích cá nhân. Rawls cho rằng, từ bức màn vô minh, mọi người sẽ đồng ý với hai nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tự do và nguyên tắc công bằng trong phân phối. Nguyên tắc tự do đảm bảo rằng mọi người đều có quyền tự do cơ bản, trong khi nguyên tắc công bằng trong phân phối yêu cầu rằng các nguồn lực phải được phân phối sao cho có lợi nhất cho những người kém may mắn nhất trong xã hội. Cách tiếp cận này không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn, giúp xây dựng một xã hội công bằng và bền vững.

II. Nội dung quan điểm của J

Nội dung quan điểm của John Rawls về công lý được thể hiện qua các tư tưởng nền tảng mà ông đã phát triển. Ông nhấn mạnh rằng công lý không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà còn là một nguyên tắc thực tiễn trong việc xây dựng xã hội. Rawls cho rằng, một xã hội công bằng phải đảm bảo rằng mọi cá nhân đều có cơ hội bình đẳng để phát triển và hưởng lợi từ các nguồn lực của xã hội. Ông đã chỉ ra rằng, để đạt được công bằng xã hội, cần phải có sự phân phối hợp lý các nguồn lực và cơ hội trong xã hội. Điều này có nghĩa là, các chính sách xã hội cần phải được thiết kế sao cho có lợi cho những người kém may mắn nhất, từ đó tạo ra một xã hội công bằng và bền vững.

2.1. Những tư tưởng nền tảng cho quan điểm về công lý

Tư tưởng nền tảng cho quan điểm của Rawls về công lý bao gồm việc xác định vai trò của triết học chính trị trong việc xây dựng một xã hội công bằng. Ông cho rằng, triết học chính trị không chỉ là lý thuyết mà còn phải có tính ứng dụng thực tiễn. Rawls đã chỉ ra rằng, để xây dựng một xã hội công bằng, cần phải có sự đồng thuận giữa các cá nhân về các nguyên tắc cơ bản của công lý. Ông đã phát triển khái niệm "công lý như là công bằng" (justice as fairness), nhấn mạnh rằng một xã hội công bằng phải đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội bình đẳng để phát triển. Điều này không chỉ có ý nghĩa lý thuyết mà còn có giá trị thực tiễn trong việc xây dựng các chính sách xã hội.

2.2. Nội dung chính trong quan niệm về công lý

Nội dung chính trong quan niệm về công lý của Rawls bao gồm hai nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tự do và nguyên tắc công bằng trong phân phối. Nguyên tắc tự do đảm bảo rằng mọi người đều có quyền tự do cơ bản, trong khi nguyên tắc công bằng trong phân phối yêu cầu rằng các nguồn lực phải được phân phối sao cho có lợi nhất cho những người kém may mắn nhất trong xã hội. Rawls đã chỉ ra rằng, để đạt được công bằng xã hội, cần phải có sự phân phối hợp lý các nguồn lực và cơ hội trong xã hội. Điều này có nghĩa là, các chính sách xã hội cần phải được thiết kế sao cho có lợi cho những người kém may mắn nhất, từ đó tạo ra một xã hội công bằng và bền vững.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, quyển I, ông khẳng định rằng: “một cộng đồng được thiết lập nhằm đạt tới một cái tốt nào đó; vì hoạt động của con người luôn luôn nhằm đạt tới cái mà nó nghĩ là tốt. Nhưng, nếu tất cả các cộng đồng đều nhắm đến một cái tốt, thì nhà nước hay cộng đồng chính trị - cộng đồng cao nhất và bao trùm tất cả các cộng đồng - phải nhắm tới cái tốt cao cả hơn mọi cái tốt khác, và phải là cái tốt ở mức độ cao nhất” [1,42]. Toàn bộ ý tưởng của Aristoles về công lý gắn liền với cách mà ông quan niệm về một cộng đồng chính trị tốt đẹp – cộng đồng sẽ đảm bảo đời sống tốt đẹp với nhiều phẩm hạnh đạo đức được tôn vinh cho các thành viên sống trong đó. Chính vì thế, công lý là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp của một cộng đồng chính trị.

Trong một xã hội, dưới một chế độ chính trị nhất định, công lý luôn bao hàm hai nhiệm vụ: thứ nhất, nó giải thích mục đích hoạt động của toàn bộ cộng đồng chính trị. Cộng đồng chính trị này ra đời để làm gì? Nó ra đời để đảm bảo cho một xã hội công bằng, đảm bảo điều gì là tốt đẹp và nên làm cho một xã hội. Ở mặt này, công lý có tính mục đích luận. Thứ hai, công lý là tiêu chuẩn để xem xét những giá trị còn lại được xã hội tôn vinh.

Điều này có nghĩa, khi công lý đã trở thành phẩm chất của cộng 19 z đồng chính trị đó, thì nó sẽ trở thành giá trị chính yếu, như là một quy chuẩn để căn cứ vào đó người ta xem xét các giá trị còn lại trong cộng đồng. Xem xét xem liệu giá trị nào đáng được suy tôn còn giá trị nào thì không; xem xét xem ai, nhóm nào xứng đáng được nhận cái gì. Và mục đích tối thượng của công lý khi thực thi nhiệm vụ với tư cách là một phẩm chất đạo đức của cộng đồng chính trị đó là phải làm sao đảm bảo được một đời sống thực sự tốt đẹp. Do đó, nếu như muốn xem xét sự khác biệt giữa các chế độ xã hội, thì phải xem xét cách họ quan niệm khác nhau về công bằng như thế nào.

Trong chương 9 của quyển III, khi bàn đến sự khác biệt giữa hai chế độ là chế quả đầu và chế độ dân chủ [1, 170-174], Aristoles đã chỉ ra một lưu ý quan trọng khi nghiên cứu về công lý với tư cách là giá trị có tính mục đích của cộng đồng chính trị - “đó là, khi áp dụng những nguyên tắc bình đẳng, họ vừa là đối tượng vừa là người phán xét. Và người ta, khi dính dáng đến [quyền lợi của] chính mình, đều không thể nào phán xét cho công minh được. Trong khái niệm về sự công bằng chứa đựng một mối quan hệ đến con người cũng như vật chất, và một sự phân phối công bằng” [1,170-171]. Ông đưa ra ví dụ, rằng “[cả quả đầu lẫn dân chủ đều cho rằng] công bằng là bình đẳng về phương diện tham gia chính quyền, nhưng [theo những người dân chủ], đó là sự bình đẳng cho tất cả mọi người.

Còn trong chế độ quả đầu, sự bất bình đẳng [về phương diện tham gia chính quyền], lại được xem là công bằng, nhưng đó là công bằng giữa những người không đồng đẳng” [1, 170]. Điều đó có nghĩa, công bằng và sự phân phối công bằng theo cách đúng đắn – công lý là tùy thuộc hoàn toàn vào mục tiêu của một xã hội, tùy thuộc vào những giá trị nào được tôn vinh và tán thưởng trong cộng đồng. Ở góc độ này có thể nhận thấy Aristoles tiếp cận công lý ở khía cạnh đạo đức. Hay nói một cách khác, thì phạm trù công lý chính là một phạm trù có tính lịch sử.

Điều đó cũng hàm nghĩa một điều là: khó để đạt tới một công lý có tính tuyệt đối, có 20 z giá trị chung cho mọi xã hội vào những thời điểm lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, bên cạnh đó, có thể thấy một ý quan trọng khác của Aristoles trong tác phẩm “Đạo đức học của Nichomachus” khi ông nói về tính nguyên tắc trong phân phối công bằng, bình đẳng là “những bình đẳng nên được đối đãi (chia) một cách đồng đều, còn những bất bình đẳng thì nên được đối xử một cách không đồng đều” [trích theo 47]. Như vậy, dù không thể có một công lý chung cho tất cả các xã hội, song luôn có nguyên tắc chung để phân chia, phán xét một cách công bằng nhất. Đó chính là cái logic, là mô thức chung trong việc thiết lập nguyên tắc mà không làm mất đi tính sinh động của lịch sử.

Vấn đề còn lại nằm ở chỗ làm sao có thể xác định được mục tiêu chung của xã hội, bởi điều đó cơ hồ làm giảm đi quyền tự do cá nhân, hay thậm chí tước đi quyền tự do lựa chọn của cá nhân. Làm sao để thống nhất được sự lựa chọn hết sức đa dạng của các thành viên trong xã hội để rồi từ đó thống nhất cho được mục tiêu chung của xã hội ấy? Aristoles trả lời cho vấn đề ấy khi bàn về mục đích của chính trị. “Mục đích của chính trị không phải để thiết lập một khuôn khổ các quyền trung lập với các mục tiêu. Chính trị phải góp phần hình thành nên công dân tử tế và thúc đẩy các đức tính tốt.

Vì “tất cả các cộng đồng đều nhằm đến một cái gì tốt” [1, 42] nên mục đích của chính trị chính là giúp cho các thành viên trong xã hội học cách sống tốt cuộc đời, là để phát triển khả năng và giá trị đặc biệt của con người [xem 1,164-166]. Từ đây chúng ta xem xét toàn bộ logic trong lập luận của Aristoles về công lý như sau: mục tiêu của cộng đồng chính trị là đảm bảo một cuộc sống tốt đẹp cho người dân, sống trong những cộng đồng tốt, những công dân có quyền phát huy những giá trị của bản thân mình. Một xã hội tốt đẹp như thế 21 z sẽ xem xét công lý như là mục tiêu, là giá trị quan trọng nhất để đảm bảo phân phối công bằng cho tất cả những ai xứng đáng với những gì họ đóng góp cho xã hội và công lý là giá trị quy chuẩn để đánh giá những giá trị khác được tôn vinh trong xã hội. Và điều sâu sa hơn cả làm nền tảng cho toàn bộ logic trên đó là khi Aristoles bàn về bản chất chính trị - xã hội của con người.

Trong quyển I của tác phẩm Chính trị luận [xem 1, tr.42-82], khi bàn về các hoạt động chính trị, Aristoles khẳng định chỉ khi nào con người sống trong thành bang và hoạt động chính trị thì mới có thế hoàn thành bản chất con người của mình. Chỉ có trong các cộng đồng chính trị như thế chúng ta mới có khả năng vận dụng những giá trị vốn có của bản thân, mới có thể bàn bạc về công lý, về bất công hay những gì được cho là tốt đẹp của cuộc sống. Nếu không sống trong các cộng đồng ấy, những gì chúng ta nói đến công lý chẳng khác nào những điều phù phiếm. Năng lực phát triển đạo đức như là năng lực tự thân của con người.

“Con người, khi toàn hảo, là động vật tốt đẹp nhất, nhưng nếu hắn bị cách ly khỏi luật pháp và công chính, thì lại trở thành một động vật xấu xa nhất. Bất công trở nên tệ hại hơn khi đó là sự bất công được vũ trang, vì con người sinh ra có được đôi tay [cũng như ngôn ngữ] để làm cho con người tốt hơn về đạo đức, nhưng đôi tay cũng có thể được dùng để làm những chuyện xấu xa. Đó là lý do tại sao nếu con người không có được đức hạnh hắn sẽ trở thành dã man nhất, đê tiện nhất, chỉ biết chiều theo nhục dục. Sự công chính [chính là sự cứu rỗi của con người] thuộc về nhà nước, vì công chính - sự phân biệt thế nào là công bằng, là lẽ phải – là trật tự của một xã hội chính trị” [1, 48-49].

Những phân tích mang tính khái quát về các vấn đề của chính trị của Aristoles gợi mở một khuynh hướng tiếp cận công lý – cách tiếp cận từ góc độ đạo đức – trong đó chỉ rõ chủ đề của công lý chính là vấn đề thưởng phạt – 22 z ai xứng đáng với cái gì. Trong suốt một thời kỳ dài của lịch sử đây là chủ đề có tính chất vạch đường đi cho những nghiên cứu hay quan niệm về công lý. Quan điểm của Chủ nghĩa vị lợi về công lý Chủ nghĩa vị lợi dựa trên nguyên tắc: hạnh phúc cực đại để triển khai toàn bộ logic tư tưởng của mình. Cách tiếp cận chủ yếu của chủ nghĩa vị lợi đó là: công lý hay điều đúng nên làm nghĩa là tăng tối đa tiện ích hay phúc lợi, mang lại hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất.

Hai đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa vị lợi là Jeremy Bentham và John Stuart Mill. Jeremy Bentham – người được xem là cha đẻ của thuyết vị lợi, cho rằng “bằng tên gọi nguyên lý hữu ích, được chúng tôi mượn của David Hume.chúng tôi đề xuất nguyên lý lợi ích lớn nhất như là tiêu chí của cái tốt và cái xấu trên bình diện đạo đức nói chung và trên bình diện cai trị nói riêng” [trích theo 37, 69]. Như vậy theo Bentham nguyên tắc cao nhất là tối đa hóa hạnh phúc, trong sự cân bằng tổng thể giữa hạnh phúc và khổ đau. Do đó, công lý hay những việc gì đúng và nên làm theo đó là tối đa hóa sự hữu ích.

Những việc đó có nội hàm tương tự như những việc gì có thể tạo ra hanh phúc hay ngăn cản những điều khổ đau. Nguyên tắc của Bentham xuất phát từ quan điểm cho rằng cộng đồng là một cơ thể hư cấu, là tổng thể các thành viên, cho nên, giả sử chúng ta cộng tất cả lợi ích thu được từ những chính sách được ban hành trong cộng đồng và sau đó, trừ đi tất cả những phí tổn của nó, thì có thể biết được chính sách ấy tạo ra hạnh phúc nhiều hơn hay đau khổ nhiều hơn. Chính với cách làm này, chúng ta sẽ lựa chọn ra được những chính sách mang lại phúc lợi tối đa nhất cho toàn thể xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tiêu đề "Luận văn thạc sĩ về vấn đề công lý trong tư tưởng triết học của John Rawls" của tác giả Đoàn Thị Vương, dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thảo Nguyên, được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2014. Bài viết tập trung vào việc phân tích và làm rõ các khái niệm về công lý trong tư tưởng triết học của John Rawls, một trong những nhà triết học nổi bật của thế kỷ 20. Tác giả không chỉ trình bày các lý thuyết của Rawls mà còn thảo luận về ý nghĩa và ứng dụng của chúng trong bối cảnh xã hội hiện đại. Bài luận văn này mang lại cái nhìn sâu sắc về công lý, giúp người đọc hiểu rõ hơn về các nguyên tắc công bằng và sự phân phối tài nguyên trong xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề pháp lý và triết học liên quan đến công lý trong xã hội hiện đại.