Chương 1: Khái quát các lý luận cơ bản về hợp tác chính trị - an ninh khu vực Chương 2: Hiện thực hoá Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN dưới góc nhìn một số lý luận quan hệ quốc tế Chương 3: Triển vọng hiện thực hóa Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN đến năm 2015. 7 Đầu tiên ASEAN dùng tên gọi Cộng đồng An ninh ASEAN (ASC) trong các văn kiện chính thức như Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (2003), Chương trình Hành động Viên-chăn (VAP, 2004) và Kế hoạch hành động xây dựng ASC. Sau khi có Hiến chương (2007), Cộng đồng An ninh ASEAN mang tên gọi mới là Cộng đồng Chính trị-An ninh ASEAN để phản ánh đúng tính chất của trụ cột này là hợp tác chính trị-an ninh ASEAN. Để đảm bảo tính thống nhất, tên gọi APSC dưới đây sẽ được sử dụng thống nhất xuyên suốt luận văn, kể cả khi đề cập đến các sự kiện diễn ra trước khi có Hiến chương hay sau khi có Hiến chương ASEAN.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái quát Chủ nghĩa Hiện thực (Realism) Chủ nghĩa Hiện thực được coi là lý thuyết quan hệ quốc tế truyền thống và chủ yếu, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính trị thế giới ngay từ khi bắt đầu đưa vào nghiên cứu quan hệ quốc tế. Bởi lẽ đây là lý thuyết được chứng minh và áp dụng nhiều trong thực tiễn, có hệ luận điểm tương đối bao quát, giải thích được nhiều hiện tượng quan hệ quốc tế. Chủ nghĩa Hiện thực tập trung vào vấn đề lớn của nhân loại là quyền lực, chiến tranh và xung đột.
Theo cách phân loại dựa trên cơ sở thời gian, Chủ nghĩa Hiện thực được chia thành: Chủ nghĩa Hiện thực cổ điển (cho tới thế kỷ 20), Chủ nghĩa Hiện thực hiện đại (1939 – 1979), và Chủ nghĩa Hiện thực cấu trúc hay còn là Chủ nghĩa Hiện thực mới (1979 tới nay)8. Với những nhà hiện thực đại diện tiêu biểu từ cổ chí kim như Thucydides, Machiavelli, Morgenthau, Hobbes, Rousseau, Kenneth Waltz, Zakaria, Mearsheimer, v. Chủ nghĩa Hiện thực dựa trên cơ sở lý luận là quyền lực và lợi ích của quốc gia không thể hòa hợp và được thực tiễn lịch sử chứng minh, cho rằng bản chất của con người là bi quan và tiến trình lịch sử thường có tính chu kỳ. Trên cơ sở lý luận đó, dù ở trường phái nào, các nhà Chủ nghĩa Hiện thực đều thống nhất đưa ra các luận điểm chính, bao gồm một số luận điểm liên quan tới việc hợp tác chính trị - an ninh và hình thành Cộng đồng An ninh như: Môi trường quốc tế là vô chính phủ bất biến (không có quyền lực ở trên nhà nước, không có quyền lực trung ương nào có khả năng bảo vệ các quốc gia), trong đó chủ thể quốc gia đóng vai trò chính trong quan hệ quốc tế, được dẫn dắt chủ yếu dựa trên việc cân nhắc về quyền lực và theo đuổi lợi ích quốc gia.
Mục đích của quốc gia là tồn tại. Muốn tồn tại quốc gia phải tự lực. Điều này làm cho các nước nhỏ yếu hơn tập hợp với nhau để chống lại các đối thủ lớn hơn, chứ không phải vì “phù thịnh”. Trong quan hệ giữa các nhà nước độc lập có chủ quyền, không có an ninh, nguy 8 Chủ nghĩa Hiện thực hiện đại (1939-1979), Chủ nghĩa Hiện thực mới (1979 - ).
Ngoài ra còn cách phân loại theo phương án phân tích (Chủ nghĩa Hiện thực cơ cấu I & II, Chủ nghĩa Hiện thực thực tiễn, Chủ nghĩa Hiện thực tự do); theo xu hướng (Chủ nghĩa Hiện thực phòng phủ, Chủ nghĩa Hiện thực tấn công). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiểm và các mối đe dọa đến sự tồn tại của nhà nước luôn hiện hữu rõ rệt và sự tồn tại của chủ quyền quốc gia – đang mất đi trong phạm vi quốc tế. Những người theo Chủ nghĩa Hiện thực coi lực lượng quân đội và liên minh là nền tảng cho an ninh, tạo ra những liên minh đối trọng giữa các quốc gia, trong đó quốc gia là trung tâm để củng cố quyền lực và đảm bảo an ninh chung [40, tr. Đồng thời, cho rằng sự lưỡng nan về an ninh chỉ ra rằng nhu cầu an ninh của quốc gia này là nguồn của sự bất ổn an ninh cho quốc gia khác.
Vấn đề xung đột trong quan hệ quốc tế là tuyệt đối, hợp tác chỉ có tính tương đối. Quan hệ quốc tế là một trò chơi quyền lực tổng số bằng không, trong đó các quốc gia quan tâm nhiều tới lợi ích tương đối hơn là lợi ích tuyệt đối của họ và không có kẻ thù hay đồng minh nào là vĩnh viễn. Do đó, việc các quốc gia hợp tác thành lập một cơ chế an ninh có thể chỉ như công cụ đảm bảo trong trò chơi quyền lực, để mỗi quốc gia đó đạt được lợi ích và toan tính của mình. Đối với những nhà Chủ nghĩa Hiện thực mới nhận định quyền lực và lợi ích theo hai trường phái: những người cho rằng quốc gia - nhà nước là lực lượng tối đa hóa an ninh (Chủ nghĩa Hiện thực phòng thủ) và những người cho rằng quốc gia - nhà nước là lực lượng tối đa hóa quyền lực (Chủ nghĩa Hiện thực tấn công).
Trong đó, các học giả hiện thực phòng thủ như Waltz, Van Evera, Jack Snyder cho rằng các quốc gia nói chung là hài lòng với hiện trạng nếu an ninh của quốc gia không bị thách thức, các quốc gia chỉ tìm cách tồn tại và các nước lớn có thể đảm bảo an ninh của mình bằng cách xây dựng, duy trì các liên minh cân bằng quyền lực nhau và chọn chiến lược quân sự phòng thủ. Các quốc gia có ít lợi ích nội tại trong việc gây chiến bằng quân sự vì chi phí bành trướng thường lớn hơn lợi ích thu được. Khi phòng thủ dễ hơn tấn công, an ninh được đảm bảo hơn và hợp tác là có thể, nhưng chỉ có thể thành công với những quốc gia bạn bè. Điều này ít nhiều có thể đưa các quốc gia tới việc hợp tác hình thành các cơ chế an ninh đa phương.
Các học giả hiện thực tấn công như Eric Labs, John Mearsheimer, và Fareed Zakaria lại lập luận rằng tình trạng vô chính phủ khuyến khích tất cả các nước cố gắng tối đa hóa sức mạnh của của mình, hướng tới “tất cả những gì họ có thể có” với “Quyền bá chủ là mục tiêu tối hậu của họ” [60, tr.32], đơn giản là vì tất cả các quốc gia liên tục tìm kiếm cơ hội cao hơn để át chế quốc gia khác, thế giới bắt buộc phải sống chung với những cuộc cạnh tranh quyền lực mạnh mẽ. Sự cạnh tranh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền lực và sự ảnh hưởng không có điểm dừng dẫn đến xung đột là không thể tránh khỏi, do đó sự hợp tác trở nên hiếm hoi và các tổ chức quốc tế nói chung, các cơ chế hợp tác an ninh nói riêng sẽ hoạt động theo sự thay đổi của quyền lực, chỉ như một công cụ hợp tác tạm thời. Như vậy, kể cả những nhà Chủ nghĩa Hiện thực mới tuy đã chú ý hơn tới yếu tố kinh tế và chính trị của các quốc gia, tuy đã có thay đổi nhận thức nhất định về vai trò của các thể chế, nhất là việc hình thành cơ chế hợp tác an ninh tập thể như hình thức cộng đồng, song lại thường chỉ xem chúng như là phương tiện phân bổ quyền lực, để đạt được quyền lực, lợi ích đã đặt ra. Khái quát Chủ nghĩa Tự do (Liberalism) Cùng với Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do cũng được coi là lý thuyết quan hệ quốc tế truyền thống chủ yếu.
Hiện nay, Chủ nghĩa Tự do ngày càng trở thành hệ thống lý luận phổ quát. Chủ nghĩa Tự do cũng có nhiều cách phân loại9, theo cách phân loại về thời gian, chia thành: Chủ nghĩa Tự do và Chủ nghĩa Tự do mới (Neo-Liberalism). Với các nhà tự do tiêu biểu đại diện từ cổ chí kim như: Imanuel Kant, Woodrow Wilson, Arnold Toynbee, Norman Angell, David Mytrany, Ernst B.Hass, Joseph Nye, Robert Keohan, v. Chủ nghĩa Tự do dựa trên cơ sở lý luận về quyền tự nhiên của con người, khẳng định lợi ích của con người là có thể hòa hợp, bởi bản chất của con người là lạc quan.
Tuy nhiên, cơ sở thực tiễn của Chủ nghĩa Tự do lại dựa vào tương lai đoán định để hoạch định chính sách và cho rằng tiến trình lịch sử diễn ra theo đường thẳng. Trên cơ sở lý luận đó, dù ở trường phái nào, các nhà Chủ nghĩa Tự do đều thống nhất ở một số luận điểm chính, bao gồm một số luận điểm liên quan tới việc hợp tác chính trị - an ninh và hình thành Cộng đồng An ninh như: Quan hệ quốc tế là đa chủ thể, bên cạnh quốc gia còn có các chủ thể phi quốc gia. Tuy nhiên, Chủ nghĩa Tự do có thiên hướng đề cao quyền cá nhân hơn quyền quốc gia; và quan niệm lợi ích đa dạng (chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, v.v), bao 9 Cách phân loại khác dựa trên cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Quốc tế tự do (Liberal Internationalism), Chủ nghĩa Lý tưởng (Idealism), Chủ nghĩa Thể chế tự do (Liberalism Institutionalism). Những cách phân chia này chỉ mang tính tương đối, dựa chủ yếu vào tiêu chí định tính hay định lượng mà các nhà nghiên cứu đưa ra.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gồm có lợi ích riêng (quốc gia) và lợi ích chung (quốc tế), v. Quan hệ quốc tế là sự hỗn hợp tương tác các vấn đề khác nhau, là quá trình phụ thuộc lẫn nhau, song lợi ích là có thể hòa hợp, tất cả mọi người đều chia sẻ lợi ích chung cơ sở về tự bảo tồn và toàn trạng [65, tr. Bên cạnh đó, khác với Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa Tự do cho rằng vẫn có thể hợp tác trong môi trường vô chính phủ, đồng thời nhấn mạnh hợp tác có thể thay thế xung đột trong quan hệ quốc tế, và giữa lợi ích của các quốc gia, không có cuộc xung đột thực sự nào10. Chủ nghĩa tự do cho rằng nguyên nhân của chiến tranh nhìn ở góc độ bản năng con người, quốc gia và hệ thống thì đó là do: sự can thiệp của chính phủ trong nước và quốc tế, phá vỡ những trật tự tự nhiên; đặc biệt là sự thất bại trong việc cân bằng quyền lực, và một số là những vấn đề của thể chế thiếu dân chủ.
Từng quốc gia và khu vực có thể đạt được hòa bình và dân chủ bởi các nhà nước dân chủ, các xã hội dân sự và pháp quyền.