phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu gồm 4 chương và 11 tiết. 5 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Vấn đề công bằng nói chung và công bằng trong kinh tế nói riêng đã có nhiều học giả trong và ngoài nước tiếp cận nghiên cứu trên những khía cạnh khác nhau cả về lý luận lẫn thực tiễn. Có thể khái quát một số nghiên cứu chủ yếu như sau: 1.
Những nghiên cứu liên quan đến lý luận về công bằng và công bằng giữa các thành phần kinh tế 1. Một số nghiên cứu nước ngoài về công bằng, công bằng xã hội Nghiên cứu về công bằng trong lịch sử, cả phương Đông và phương Tây nói chung thường không tách rời khỏi công bằng xã hội (CBXH). Đối với các học giả phương Tây ngoài mácxit hiện nay, các nghiên cứu về công bằng, CBXH lại thường gắn với việc xem xét công bằng từ giác độ kinh tế. Trong các nghiên cứu hiện có về chủ đề này ở phương Tây hiện đại trước hết cần nhắc đến John Rawls với tác phẩm: “Lý thuyết về Công lí" (A theory of Justice) nổi tiếng của ông (Revised edition, USA, 2001).
Trong tác phẩm này, J. Rawls đã trình bày quan điểm về công bằng của ông trên nền tảng phân tích mối quan hệ giữa công bằng và thể chế xã hội. Theo ông, thể chế xã hội quyết định việc lựa chọn các nguyên tắc phân chia cả quyền lợi và những nghĩa vụ cơ bản. John Rawls khẳng định, công lý với tính cách là công bằng chính là chuẩn mực của trạng thái xã hội lý tưởng mà ở đó các cá nhân khi tham gia vào xã hội một cách tự nguyện sẽ ngày càng đạt được lợi ích tối đa cho mình.
Với ông, công bằng hay không công bằng không phải là sự khác nhau ở xuất phát điểm của mỗi cá nhân, mà chủ yếu là ở chỗ khi tham gia vào các hợp tác xã hội, nếu cá nhân đó chưa hoặc không có sự bình đẳng với các cá nhân khác về một số phương diện (sinh học hay xã hội) nhưng nếu họ vẫn tự nguyện chấp nhận cơ chế hoạt động xã hội chung thì đó vẫn là công bằng… Lý luận về công bằng của John Rawls đã đặt nền tảng, phương hướng cho các chính sách xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới. 6 luan an Tác phẩm Công bằng và chính trị của sự khác biệt (Justice and Politics Difference) của Iric Masion Young (Princeton University Press, Oxford, 1990) đã kế thừa quan điểm CBXH của John Rawls đồng thời bổ sung vào đó một số quan điểm của C.Mác về các nguyên tắc phân phối. Theo tác giả, cần thiết phải mở rộng khái niệm phân phối, chứ không chỉ bó hẹp trong phạm vi nguồn lực vật chất và thu nhập của cá nhân. Tác giả đề cập đến việc phải phân phối quyền tự chủ cá nhân, phân công lao động và cả văn hóa, vì đây là những yếu tố cơ bản để mỗi cá nhân sử dụng nhằm điều chỉnh hoạt động của mình trong các mối quan hệ xã hội.
Công trình Công bằng phân phối (Distribute Justice), Stanford Encyclopedia of Philosophy, Mar 5, 2007, đã khái quát các nguyên tắc phân phối công bằng cơ bản như: phân phối bình quân tuyệt đối, phân phối dựa trên sự khác biệt, phân phối dựa trên tài nguyên, phân phối dựa trên phúc lợi xã hội, phân phối dựa trên cống hiến, phân phối tự do chủ nghĩa, phân phối dựa trên thuyết bình đẳng nam nữ. Những nguyên tắc công bằng phân phối trên bao gồm cả phân phối lợi ích và trách nhiệm trong hoạt động kinh tế giữa các cá nhân, các nhóm và các tổ chức… Tác phẩm Kinh tế học công cộng của nhà kinh tế học Stiglitz, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1995, góp thêm một quan niệm về vấn đề công bằng trong phát triển kinh tế. Tác giả cho rằng chúng ta thường có những quan điểm mâu thuẫn về nội dung thế nào là công bằng, trong đó điểm quan trọng là sự đánh đổi giữa công bằng và hiệu quả của sự phát triển. Trong công trình này, tác giả cũng chỉ ra mâu thuẫn cơ bản giữa thực hiện CBXH và hiệu quả phát triển kinh tế, từ đó định hướng giải quyết mối quan hệ này thông qua mức độ hữu dụng cận biên.
Tuy vậy, vẫn còn nhiều mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa CBXH và phát triển kinh tế mà định hướng này chưa cho thấy tính khả thi để khắc phục. Tác giả Lý Bân trong tác phẩm Lý luận chung về phân phối của chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, đã lý giải một cách khách quan về sự hình thành chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa (XHCN), trình bày lý luận về cơ sở và đặc trưng của phân phối cũng như các đặc điểm cơ bản của phân phối XHCN. Với việc phân tích, luận giải, đánh giá thực tiễn hơn 70 năm tồn tại của kinh tế các 7 luan an nước XHCN, công trình có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận để tham khảo phục vụ nghiên cứu về quan hệ phân phối ở nước ta, một nước đang quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Bên cạnh đó cần phải kể đến 2 tập của „Chuyên khảo về d n chủ xã hội”.
Trong đó, tập 1: Nền tảng của Dân chủ Xã hội (Foundation of Social Democrac), do Quỹ FES (Friedrich-Ebert-Stiftung) xuất bản tại Berlin, năm 2009, cho rằng công bằng cùng với tự do oàn kết là những giá trị nền tảng của dân chủ xã hội. Chuyên khảo cũng đã khái lược tương đối đầy đủ cơ sở lý luận về công bằng và CBXH nhìn từ góc độ triết học. Tập 2 của chuyên khảo với tên gọi: Kinh tế và d n chủ xã hội, được dịch ra tiếng Việt (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014), bên cạnh việc trình bày các học thuyết kinh tế cơ bản; các hệ thống kinh tế, chế độ kinh tế cùng các định hướng chính sách kinh tế theo lập trường dân chủ xã hội, chuyên khảo đã nhấn mạnh vai trò của công bằng và bình đẳng với tư cách là những thước o quan trọng ể o lường hiệu quả của các chính sách kinh tế. Một số những công trình nêu trên mà luận án tiếp cận được chưa thể bao quát hết những nghiên cứu về chủ đề này trên thế giới, song đã giúp tác giả luận án có được một cái nhìn tương đối khái quát những quan điểm về công bằng nói chung và công bằng trong kinh tế nói riêng, cũng như các nguyên tắc để thực hiện công bằng.
Nhìn chung, các nghiên cứu này cho thấy công bằng, CBXH và trong một chừng mực nhất định là cả công bằng trong kinh tế nữa, thường được xem xét trong mối quan hệ mật thiết với các phạm trù tự do, bình đẳng, dân chủ, đoàn kết…và những vấn đề cụ thể khác gắn với bối cảnh lịch sử - xã hội của mỗi quốc gia. Những nghiên cứu trong nước về công bằng, công bằng xã hội Có thể nói, đây là nhóm công trình có số lượng đông đảo nhất. Trong phạm vi luận án, xin tổng hợp một số nghiên cứu tiêu biểu như sau: Trước hết phải kể đến tác giả Lê Hữu Tầng với các công trình nghiên cứu tiêu biểu: “Từ tư tưởng của C.Mác về công bằng và bình đẳng trong chủ nghĩa xã hội”, Tạp chí Triết học, số 2, 1993; “Về Công bằng xã hội”, Tạp chí Cộng sản, số 19, 1996; Về ộng lực phát triển kinh tế xã hội, Nxb Khoa học Xã hội, 1997; “Phân 8 luan an hóa giàu nghèo xét từ góc độ công bằng và bình đẳng xã hội”, Tạp chí Triết học, số 4, 1999; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 1, 2008. Trong các công trình này, từ góc độ triết học, tác giả đã luận giải một số vấn đề lý luận về CBXH và việc thực hiện CBXH trong điều kiện Việt Nam hiện nay như: CBXH và bình đẳng xã hội (BĐXH); mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế (TTKT) và CBXH; động lực phát triển kinh tế xã hội, các nguyên tắc phân phối trong CNXH…và nhiều vấn đề lý luận quan trọng có liên quan khác.
Có thể nói đây là những công trình nghiên cứu về công bằng, CBXH từ phương diện triết học đậm nét nhất của những người làm công tác nghiên cứu triết học. Tác giả Phạm Xuân Nam với các công trình : “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Xã hội học, số 13 (87), 2004; “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Cộng sản, số 7, 2004; “Về khái niệm công bằng xã hội”, Tạp chí Xã hội học số 1 (97), 2007; “Vấn đề thực hiện công bằng xã hội”, Tạp chí Xã hội học, số 2, 2007; “Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Triết học, số 2, 2008…Trong các nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Xuân Nam đã trình bày nhiều quan niệm và hình thức thực hiện CBXH khác nhau trên thế giới. Qua việc khảo cứu, đánh giá các mô hình kinh tế tiêu biểu trên thế giới, như mô hình kinh tế thị trường (KTTT) tự do, mô hình KTTT xã hội, mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung phi thị trường, tác giả đề xuất cách thức giải quyết mối quan hệ giữa thúc đẩy TTKT với thực hiện CBXH. Tác giả cũng nhấn mạnh công bằng về kinh tế vẫn được xem là yếu tố cốt lõi của CBXH trong những thập kỷ gần đây.
Vấn đề CBXH trong các lĩnh vực khác tuy có được đề cập đến ở những mức độ khác nhau nhưng vẫn chưa được giải quyết một cách đầy đủ. Tác giả Nguyễn Minh Hoàn với một loạt các công trình bàn về vấn đề này như: “Thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay", Tạp chí Triết học, số 06, 2003; 9 luan an “Vai trò của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”, Tạp chí Triết học, số 11, 2005; “Vị trí của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”, Tạp chí Triết học, số 1, 2006; “Quan điểm của chủ nghĩa Mác về công bằng xã hội với tư cách thước đo trình độ giải phóng con người", Tạp chí Triết học, số 5, 2007; Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, 2009.