CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DÒNG TIỀN VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH. Quản lý dòng tiền đã trở thành một yếu tố quan trọng của chiến lược hoạt động nhiều doanh nghiệp (Fisher, 1998; Quinn, 2011). Chính sách quản lý dòng tiền của một doanh nghiệp, trong đó quản lý vốn luân chuyển dưới các khoản mục Phải thu khách hàng, Hàng tồn kho, và phải trả người bán, có mối liên hệ để cải thiện hiệu quả tài chính công ty (Richards và cộng sự, 1980; Stewart, 1995).
Từ lâu, ngành sản xuất công nghiệp đã thừa nhận việc quản lý dòng tiền hiệu quả là một kỹ thuật để cải thiện hiệu quả tài chính. Các nghiên cứu khoa học về mối liên hệ giữa quản lý dòng tiền và hiệu quả tài chính dựa trên khảo sát tĩnh của dòng tiền chiếm ưu thế và được xem là chuẩn mực (Ebben và cộng sự, 2011; Farris và cộng sự, năm 2002, 2003; Moss và cộng sự, 1993). Các nghiên cứu này cho rằng việc điều chỉnh lưu lượng tiền mặt của công ty sẽ thay đổi hiệu quả tài chính và chúng được hỗ trợ thực nghiệm bằng cách so sánh, đối chiếu và sử dụng các thước đo tĩnh các vị thế dòng tiền và hiệu quả tài chính. Cách tiếp cận tĩnh về dòng tiền cũng đã cung cấp các kiến thức phong phú về các giá trị của việc quản lý dòng tiền hiệu quả.
Tuy nhiên các mối quan hệ kinh tế thường có xu hướng động (Nerlove, 2005). Vì vậy, các phương pháp nghiên cứu những mối quan hệ có xu hướng động từ bộ dữ liệu bảng theo chiều dọc (longitudinal panel) sẽ cho kết quả chính xác hơn và tốt hơn về sự phức tạp của các mối quan hệ kinh tế tiềm ẩn (Hsiao, 2007). Do đó, trong nghiên cứu này, các mối quan hệ giữa những thay đổi ở các vị thế dòng tiền mặt của công ty và những thay đổi trong hoạt động của công ty được nghiên cứu từ quan điểm động. Lý thuyết quản lý vốn luân chuyển thường cho rằng các công ty có thể cải thiện tính thanh khoản và vị thế cạnh tranh của họ bằng điều khiển dòng tiền của họ (Brewer và cộng sự, 2000; Farris và cộng sự, 2002, 2003; Christopher và cộng sự, 1999; Moss và cộng sự, 1993; Stewart , 1995).
Hơn nữa, khả năng để một công ty luân chuyển vật tư, hàng hóa thành tiền mặt từ hoạt động bán hàng sẽ phản ánh tốt nhất 123doc 7 khả năng tạo ra lợi nhuận từ các khoản đầu tư của mình (Gunasekaran và cộng sự. Ba nhân tố trực tiếp tác động đến tiền mặt của công ty là: Khoản phải thu khách hàng, tồn kho vật tư hàng hóa và khoản phải trả người bán (Richards và cộng sự, 1980). Mặc dù các khoản phải trả người bán và khoản phải thu khách hàng thường được giám sát bởi bộ phận tài chính của công ty, song các nhân tố này thường được điều khiển chủ yếu bởi các quyết định kinh doanh (Özbayraka và Akgün, 2006). CÁC THƯỚC ĐO DÒNG TIỀN Trong một chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh, dòng tiền mặt của doanh nghiệp có thể liên tục vận động và chuyển hóa thành các khoản mục tài sản khác trên bảng cân đối kế toán.
Khi các tài sản này tham gia vào các hoạt động sản xuất, cung cấp hàng hóa và dịch vụ các tài sản này liên tục chuyển hóa giá trị cho nhau và chuyển hóa ngược lại thành tiền mặt, các hoạt động này tạo ra giá trị mới cho doanh nghiệp và kết thúc một chu trình luân chuyển tiền mặt. Năm thước đo tài chính được định nghĩa dưới đây dùng để đo lường vị thế dòng tiền và khoảng thời gian cần thiết để 03 nhân tố chính (Phải thu khách hàng, Phải trả người bán và Tồn kho) của dòng tiền chuyển hóa hết giá trị cho nhau và quay trở lại thành tiền mặt. Ba thước đo thành phần và hai thước đo tổng hợp thường được sử dụng trong các nghiên cứu là : Kỳ luân chuyển khoản phải thu (DSO- Days of Sales Outstanding): Thước đo khoảng thời gian trung bình một doanh nghiệp thu được hết tiền cho số lượng hàng đã bán ra trong kỳ. Được xác định bằng cách lấy (Phải thu khách hàng cuối kỳ chia Doanh số bán hàng phát sinh trong kỳ) nhân (Số ngày trong kỳ).
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho (DIO- Days of Inventory Outstanding): Thước đo khoảng thời gian trung bình mà một doanh nghiệp sử dụng hết số lượng hàng tồn kho cuối kỳ. Được xác định bằng cách lấy: (Giá trị cuối kỳ của hàng tồn kho chia Giá vốn hàng bán phát sinh trong kỳ) nhân (Số ngày trong kỳ) 123doc 8 Kỳ luân chuyển khoản phải trả (DPO- Days of Payables Outstanding): Thước đo khoảng thời gian trung bình một doanh nghiệp trả hết tiền cho người bán số lượng hàng đã mua trong kỳ. Được xác định bằng cách lấy: (Phải trả người bán cuối kỳ chia Giá trị hàng đã mua trong kỳ) nhân (Số ngày trong kỳ) Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC- Cash Conversion Cycle): Thước đo kết hợp ba thước đo trên, nó đại diện cho khoảng thời gian cần thiết để một doanh nghiệp chuyển đổi hàng hóa đã mua cho hoạt động sản xuất kinh doanh thành tiền mặt. Được xác định bằng cách lấy: (DSO cộng DIO trừ DPO).
Chu kỳ tiền mặt hoạt động (OCC- Operating Cash Cycle) : Thước đo này chỉ kết hợp hai thước đo thành phần ở trên và được xác định bằng cách lấy: (DSO cộng DIO). OCC khác với CCC ở chỗ nó không xem xét khoản Phải trả ngoài bán và nó đại diện cho khoảng thời gian cần thiết để một doanh nghiệp chuyển đổi hàng tồn kho thành tiền mặt. SƠ ĐỒ 1 : MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC THƯỚC ĐO DÒNG TIỀN Chu kỳ tiền mặt hoạt động (OCC) Chu kỳ luân chuyển hàng tồn kho (DIO) Chu kỳ luân chuyển khoản phải thu (DSO) Chu kỳ luân chuyển khoản Chu kỳ luân chuyển phải trả tiền mặt (CCC) (DPO) Nhận hàng Trả cho Xuất bán Thu tiền tồn kho người bán hàng bán hàng Nguồn : Tổng hợp dựa trên nghiên cứu của Churchill và cộng sự (2001) 123doc 9 BẢNG 1 : MÔ TẢ CÁC THƯỚC ĐO DÒNG TIỀN THƯỚC DO MÔ TẢ CÔNG THỨC 1. DSO – Chu kỳ Số ngày trung bình cần thiết để thu (Phải thu khách hàng cuối luân chuyển được hết tiền cho số lượng hàng đã kỳ / Doanh thu bán trong khoản phải thu bán ra trong kỳ kỳ) x (Số ngày trong kỳ) 2.
DIO – Chu kỳ Số ngày trung bình để số hàng tồn kho (Hàng tồn kho cuối kỳ / luân chuyển cuối kỳ được sử dụng hết Giá vốn hàng bán trong hàng tồn kho kỳ) x (Số ngày trong kỳ) 3. DPO – Chu kỳ Số ngày trung bình để doanh nghiệp (Phải trả người bán cuối luân chuyển trả hết tiền cho người bán số lượng kỳ / Số lượng hàng đã mua khoản phải trả hàng đã mua trong kỳ. Trong đó: Số lượng hàng mua trong kỳ = (Giá vốn hàng bán trong kỳ + thay đổi hàng tồn kho cuối kỳ) 4. CCC – Chu kỳ Số ngày cần thiết để một doanh nghiệp DSO + DIOTB – DPO luân chuyển tiền chuyển đổi số lượng hàng đã mua cho Trong đó, DIO được TB mặt hoạt động sản xuất kinh doanh thành xác định như sau: tiền mặt.
OCC – Chu kỳ Số ngày trung bình để một doanh DSO + DIOTB tiền mặt hoạt nghiệp chuyển đổi lượng hàng tồn kho động thành tiền mặt từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn: Tổng hợp dựa trên nghiên cứu của Kroes và cộng sự (2014) 123doc 10 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ DÒNG TIỀN 1. Tóm tắt các nghiên cứu điển hình và nền tảng lý thuyết.
Mặc dù có rất nhiều những nghiên cứu về dòng tiền trong nhiều bối cảnh hoạt động khác nhau, song các nghiên cứu điển hình sau đây được chọn lựa vì những nghiên cứu này cố gắng tìm hiểu mối liên hệ giữa dòng tiền và hiệu quả tài chính: Moss và cộng sự (1993) phân tích mối quan hệ giữa Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) và quy mô doanh nghiệp. Sử dụng hồi quy OLS nghiên cứu Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) theo từng nhóm công ty, doanh thu, tổng tài sản và tỷ số thanh khoản với mẫu dữ liệu gồm 1.717 công ty thương mại ở Mỹ giai đoạn từ năm 1971 – 1990. Kết quả cho thấy công ty có quy mô lớn hơn sẽ có Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) ngắn hơn. Soenen (1993) phân tích mối quan hệ Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) và lợi nhuận.
Sử dụng phân tích thực nghiệm các giá trị trung bình Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) và Chu kỳ thương mại (NTC) với mẫu quan sát gồm 2.000 công ty của 20 ngành công nghiệp giai đoạn từ năm 1970-1989. Kết quả cho thấy Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) khác nhau giữa các ngành, Chu kỳ thương mại không có mối quan hệ đáng kể với lợi nhuận công ty. Stewart (1995) sử dụng một số giả thuyết, ví dụ và tình huống cụ thể đề xuất rằng Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) là một công cụ phân tích hữu ích và chuẩn mực cho chuỗi cung ứng. Churchill và cộng sự (2001) phân tích một số ví dụ và tình huống cụ thể được ghi nhận trên dữ liệu tài chính của doanh nghiệp.
Nghiên cứu sử dụng Chu kỳ tiền mặt hoạt động (OCC) như là thước đo xác định tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. 123doc 11 Farris và cộng sự (2002) phân tích một số ví dụ và tình huống cụ thể được ghi nhận trên dữ liệu tài chính của doanh nghiệp cho thấy tầm quan trọng của thước đo Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC). Farris và cộng sự (2003) phân tích sự tương phản các giá trị trung bình của Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) trên dữ liệu tài chính hàng năm của mẫu dữ liệu gồm 5.884 công ty ngành sản xuất công nghiệp. Kết quả cho thấy thời gian trung bình của Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) sụt giảm từ năm 1986 đến năm 2001.
Deloof (2003) sử dụng hệ số tương quan Pearson và hồi quy OLS cho mẫu dữ liệu gồm 1,009 công ty phi tài chính lớn ở Bỉ trong giai đoạn 1992- 1996 để kiểm tra mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi. Kết quả cho thấy Chu kỳ luân chuyển khoản phải thu (DSO), Chu kỳ luân chuyển hàng tồn kho (DIO) và Chu kỳ luân chuyển khoản phải trả (DPO) ngắn hơn có liên quan đến tổng lợi nhuận hoạt động cao hơn. Tuy nhiên, Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) không liên quan đáng kể tổng lợi nhuận hoạt động.