CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CO QUAN THỰC HIỆN CHỨC NANG CONG TO 1. Công tổ và co quan thực hiện chức năng công tố 1. Khai niệm công tô Công tố là khái niệm xuất hiện và tồn tại từ rất lâu trong khoa học pháp lý. Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau, khái niệm này được hiểu khác nhau.
Trong Từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết, khái niệm công tố được hợp thành bởi hai từ: “sự buộc tội” với tính cách là danh từ và “công” với tính cách là tính từ. Từ “sự buộc tội” được dùng theo hai nghĩa: thứ nhất, đó là “nội dung của sự buộc tội nêu trong quyết định khởi t6 bị can, kết luận điều tra, cáo trang và bản án”; thứ hai, đó là “một loại hoạt động buộc tội của Nha nước, của xã hội, thậm chí của người bị hại hay người đại diện của người này trong việc chứng minh lỗi của bị cáo”. Khi ghép từ “sự buộc tội” với từ “công” thành “công tố” thì được hiểu là “sự buộc tội của Nhà nước đối với người bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. Trong tiếng Anh, công tố (prosecution) có nghĩa là quá trình lập luận minh chứng ở Toà án một người nào đó đã phạm tdi.
ở Việt Nam, về mặt lập pháp, cho đến nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào cua Nhà nước ta chính thức giải thích nội dung của khái niệm này. Về mặt khoa học, tại cuốn “Từ điển Tiếng Việt” in lần thứ 6, đợt 2 của Viện ngôn ngữ do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên (Nhà xuất bản Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển Hà Nội - Đà Nẵng, 1998, trang 204) thì công tố có nghĩa là “điều tra, truy tổ và buộc tội kẻ phạm pháp trước Toà án”. Như vậy, có thé thay, thuật ngữ công tố được hiểu rất khác nhau. Tuy nhiên, giữa các khái niệm trên có một điểm chung, đó là: hiểu công tố là sự buộc tội của Nhà nước đối với người phạm pháp.
Có thể nói, công tố là một trong những hình thức cáo buộc người khác thực hiện hành vi sai trái hoặc vi phạm pháp luật. Trong công tố, người thực hiện sự cáo buộc ay là Nha nước, đối tượng bị cáo buộc không chỉ là một con người cụ thể mà còn có thể là một pháp nhân và việc cáo buộc này không bị hạn chế trong một lĩnh vực nao. Sự cáo buộc được thê hiện và tồn tại trong nhiều lĩnh vực khác nhau tuỳ theo hành vi vi phạm được thực hiện đã xâm phạm tới quan hệ pháp luật nào. Vì vậy, công tố, theo người viết cần được hiểu là sự cáo buộc của Nhà nước đối với người đã có hành vi vi phạm pháp luật trước Toà án.
Đặc điểm của công tố Thứ nhất, công tố là quyên. Khái niệm “tố” được hiểu là sự cáo buộc công khai của một người hay một nhóm người, của cơ quan hoặc tô chức về hành vi vi phạm pháp luật, hành vi sai trái của người, t6 chức hoặc co quan trước người hoặc cơ quan có thâm quyền. Việc cáo buộc công khai là một quyền của chủ thé và có thé thực hiện bằng các con đường khác nhau trong đó có Nhà nước. Công tố là một hình thức biểu hiện của quyền lực Nhà nước.
Quyền công tổ là quyền lực công đòi hỏi phải tố giác và xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một cách công khai bằng con đường Toà án. Do vậy, khi nói tới công tố cần được hiểu là quyền công tố. Khái niệm công tố và quyền công tô đồng nhất với nhau. Thứ hai, công tố là khái niệm pháp lý mang tính lịch sử.
Công tố là hình thức nhân danh lợi ích công để phát giác, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lợi ich chung ra trước Toà án dé xét xử. Song, công tố Nhà nước không đồng nghĩa với công tô xã hội. Công tố là sản phẩm của xã hội có Nhà nước. Công tố xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, pháp luật.
“Quyền công tố là một bộ phận cấu thành của quyền lực Nhà nước. Quyền công tố thể hiện rõ mối quan hệ giữa Nhà nước với người phạm tội và mối quan hệ ấy do chính hành vi phạm tội làm phát sinh ra. Sự trừng phạt là quyền của Nhà nước, không thể chuyển giao cho tư nhân. Mọi quyền của Nhà nước đối với người phạm tội, đồng thời cũng là nghĩa vụ của người đó đối với Nhà nước bởi vì bản chất phạm tội của hành vi không phải là xâm phạm đến rừng cây với tính cách là thứ vật chất mà xâm phạm đến hệ thần kinh của Nhà nước, đến quyền sở hữu”.[9, tr218,219] Quyền công tổ gan liền với bản chất của từng kiểu Nhà nước, gắn liền với cách thức tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước ở mỗi quốc gia VỚI những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Theo thời gian, sự phát triển, hoàn thiện bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật, việc phân định chức năng Nhà nước giữa các cơ quan ngày càng cụ thê, rõ ràng hơn theo hướng chuyên môn hoá; nhận thức xã hội về trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội và cá nhân đã có sự thay đổi đáng kể. Nhà nước dần dần có sự can thiệp sâu hon dé bảo vệ lợi ích cá nhân khi chúng bị vi phạm. Vai trò của công tố ngày càng được đề cao. Và như vậy, có thể nói, khái niệm công tố, quyền công tố đồng nghĩa với khái niệm công tố Nhà nước, quyền công tổ Nhà nước.
Thứ ba, đối tượng bảo vệ của quyền công tố là lợi ích chung của Nhà nước. Nhà nước, với tính cách là một quyền lực công cần phải duy trì trật tự xã hội. Đây là nhu cầu tất yếu vì xã hội là môi trường tồn tại của Nhà nước. Trật tự xã hội được duy trì mới là cơ sở bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và những lợi ích chung có liên quan mà bất kỳ Nhà nước nào cũng phải quan tâm.
Trách nhiệm xã hội này thuộc về Nhà nước chứ không phải trách nhiệm của cá nhân hay một nhóm người bởi vì Nhà nước nói chung dường như là người nhân danh xã hội duy trì các xung đột trong vòng trật tự. Thứ tư, công tố gắn liền song phải độc lập với quyền tài phán của Toa án. Quyên công tô là quyên lực công, đòi hỏi phải tô giác và xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một cách công khai bằng con đường Toà án nên quyền công tố phải gắn liền với quyền tài phán của Toà án. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách quan và sự công bằng thì quyền này phải độc lập với quyên tài phán của Toà án.
Theo đó, về mặt nguyên tắc, công tố chỉ có thé do một cơ quan thực hiện và được gọi là cơ quan công tố, đồng thời, quyền công tố cũng phải được thê hiện ở những nội dung cụ thê. Phạm vì của công tổ Phạm vi của quyền công tố xuất phát từ quan niệm về công tố, do vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về van dé nay. ở các quốc gia khác nhau, quan điểm chính thống được pháp luật ghi nhận về vấn đề này cũng khác nhau. Có quốc gia cho rang, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự; có quốc gia lại cho rằng, quyền công tố có ở tất cả các lĩnh vực tô tụng trong đó có tố tụng hình sự và các tố tụng khác ngoài tố tụng hình sự.
Việc xác định phạm vi của công tố có ý nghĩa quan trọng, tránh sự nhằm lẫn giữa quyền công tố với tổ chức thực hiện quyền công tố, giữa quyền năng công tố với thâm quyền tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc quyền khởi kiện của đương sự với quyền khởi tố của cơ quan công tố trong lĩnh vực tố tụng khác ngoài tố tụng hình sự. Về lý luận, cần xuất phát từ đặc điểm đối tượng bảo vệ của công té là những lợi ích Nhà nước, lợi ích chung của xã hội để lý giải phạm vi của quyền công tô. Những lợi ích chung đó biểu hiện trong những mối quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, thê hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước trước toàn xã hội. Những quan hệ cơ bản và quan trọng đó không chỉ được xác lập và bảo vệ bằng pháp luật hình sự, luật tố tụng hình sự mà còn có cả các lĩnh vực pháp luật khác như dân sự, hành chính.
Do đó, những hành vi phạm tội và những hành vi vi phạm pháp luật khác liên quan đến lợi ích chung, lẽ tất nhiên, xâm phạm trước hết đến một hoặc một số cá nhân trong cộng đồng. Nhưng cái chính là nó xâm hại đên sự tôn tại của chê độ, đên hệ thân kinh của Nhà nước, của cả xã hội. Điều này được thé hiện rõ nét nhất ở những hành vi phạm tội nên quyền công tố được thé hiện rõ nét nhất, đậm nhất trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, còn trong các lĩnh vực tố tụng khác như dân sự, hành chính, lao động thì quyền công t6 dường như nhường chỗ cho quyền tự định đoạt của các đương sự. Chỉ trong những trường hợp trật tự công cộng và lợi ích của Nhà nước có nguy cơ bị xâm hại thì Nhà nước mới đứng ra để can thiệp.
Nghiên cứu pháp luật nước ngoài cho thấy, cơ quan công tố ở nhiều nước trên thế giới đều được trao quyền nhân danh công quyền dé can thiệp vào những vụ án dân sự, hành chính, kinh tế quan trọng liên quan đến lợi ích công. ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật hiện hành, cơ quan thực hiện chức năng công tô cũng thực hiện quyền công tố ở một số lĩnh vực hành chính, dân sự, lao động. Do vậy, có thê khang định, phạm vi của công tô được thực hiện trên tất các lĩnh vực. Tuy nhiên, giới hạn của quyền công tô đến dau, sự “nhường sân” cho tư tố dé đảm bảo dân chủ, tự quyết của cá nhân là van dé cần tranh luận, xin được phân tích cụ thể hơn ở chương ba.
Công t6 và tư tổ Một trong những khái niệm có mối liên hệ chặt chẽ với công tố là tư tố. Có thê nói, đây là những hiện tượng cùng tồn tại và phát triển không tách rời nhau trong xã hội có Nhà nước.