Chương I: Cơ sở của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam. Thực tiến cổ phần hoá, tư nhân hoá ở một số nước trên thế giới. - Chương II: Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam - Thực trạng và giải pháp thúc đẩy - Kết luận CITUGNG I CƠ SỞ CUA CO PHAN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 6 VIET NAM. THUC TIEN CUA CO PHAN HÓA, TƯ NHÂN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở MOT SỐ NƯỚC TREN THE GIỚI I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIEN CUA CỔ PHAN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 1. Doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế nước ta 1.1 Sự ra đời cua doanh nghiệp nha nước va hoạt động của nó trong cơ chế cũ Hệ thống doanh nghiệp nhà nước ở nước ta đã có hơn 40 năm xây dựng và phát triển. Trong thời kỳ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, các xí nghiệp quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước) là lực lượng kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Chúng được hình thành từ 3 nguồn sau: Thứ nhất, xây dựng mới bằng nguồn vốn của ngân sách Nhà nước, nguồn vốn viện trợ hoặc di vay (của Liên Xô (cũ), Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác trong thời kỳ đó).
Thứ hai, quốc hữu hóa các xí nghiệp của các nhà tư sản mại ban, tư san dân tộc đã bỏ ra nước ngoài hoặc xí nghiệp nhà nước của chế độ cũ. Hình thức này được áp dụng rộng rãi, trong những năm 50, 60, được tiếp tục trong những năm 70 và đạt đỉnh cao vào năm 1975, 1976. Thứ ba, biến các xí nghiệp tư nhân của các nhà tư san dân tộc thành các xí nghiệp công tư hợp doanh và sau đó thành các xí nghiệp quốc doanh. Doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới.
Tuy nhiên, tùy theo chủ trương, chính sách và điều kiện cu thé của mỗi quốc gia mà khu vực kinh tế Nhà nước có phạm vi và mức độ hoạt động khác nhau. Việc xác định vị trí, vai trò của kinh tế quốc doanh ở các nước bắt nguồn chính từ học thuyết về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. Ở các nước tư bản phát triển, từ những năm 30, vai trò kinh tế của Nhà nước được nhiều nhà khoa học tư sản nghiên cứu và xây dựng thành các trường phái lý luận. Một trong những trường phái đó khẳng định vai trò điều chỉnh kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
Tiêu biểu cho trường phái này là nhà kinh tế học J. Keynes người Mỹ. Dựa vào học thuyết kinh tế của Keynes, các nhà nước tư bản thực hiện chính sách can thiệp vào nền kinh tế nhằm điều tiết chu kỳ phát triển tránh sự mất cân đối có tính tự phát của nền kinh tế thị trường. Sự điều tiết của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế được thực hiện bằng nhiều biện pháp, công cụ khác nhau nhằm hướng dẫn, hạn chế thay đổi hành vi kinh tế của các chủ thể san xuất và kinh doanh cho phù hợp với những sự vận động tổng thể của nền kinh tế theo những mục tiêu mà Nhà nước vạch ra.
Một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế là các doanh nghiệp của Nhà nước. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước tư bản đã thực hiện chính sách chuyển một số công ty tư nhân về khu vực Nhà nước. Ở các nước này, doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong các ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ công cộng, các ngành thuộc lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, tức là những lĩnh vực tư nhân không dủ sức đầu tư hoặc không đủ độ tin cậy để cho phép đầu tư. Khu vực kinh tế nhà nước ở các nước tư bản phát triển mặc dù chiếm tỷ trọng thấp trong GDP của mỗi nước (như ở Mỹ: 1,3% - 1983; Anh: 11,1% - 1978; Pháp: 16,5% - 1982; Italia: 26% - 1982; Cộng hòa Liên bang Đức: 10,7% - 1982; Australia: 14,5% - 1979) nhưng đã có những đóng góp quan trọng và duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định trong thời kỳ dài của những năm 1960-1970.
Ở các nước theo nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã vận dụng học thuyết Mác - Lênin để thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, coi chế độ công hữu là nền tang kinh tế để xóa bỏ sự phân hóa giàu nghèo, bất công trong xã hội do kinh tế thị trường và chế độ tư hữu gây ra, để xây dựng một xã hội công bằng do nhân dân lao động làm chủ. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội các nước đã quá nhấn mạnh vào nhiệm vụ và vai trò kinh tế của Nhà nước, coi nó là hiện thân của chế độ công hữu có sức mạnh toàn năng trong việc tổ chức mọi hoạt động kinh tế của xã hội đồng thời phủ nhận vai trò của thị trường, của kinh tế tư nhân. Trong các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, nền kinh tế quốc dân không phải là một nền sản xuất hàng hóa mà là một nền kinh tế hiện vật và xã hội hóa được quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp: Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là trung tâm quyền lực chính trị vừa là chủ sở hữu duy nhất và thống nhất đối với tuyệt đại đa số các tư liệu sản xuất của xã hội. Vì vậy, Nhà nước vừa là người chỉ huy, vừa là người trực tiếp tổ chức thực hiện sản xuất kinh doanh.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa đều thực hiện việc quốc hữu hóa và mở rộng mạnh mẽ khu vực kinh tế Nhà nước trong hầu hết các ngành kinh tế với tỷ trọng rất cao. Tỷ trọng khu vực kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân ở các nước xã hội chủ nghĩa. Bảng thống kê dưới đây phan ánh phần nào thực tế nêu trên. Tên nước Ty trọng trong vốn cố định | Tỷ trọng trong GDP (%) (%) Liên Xô (cũ) 100,0 (1985) 85,0 (1990) CHDC Đức (cũ) 99,0 (1985) 96,5 (1982) Tiệp Khắc (cũ) 99,3 (1985) 97,0 (1986) Ba Lan 80,0 (1985) 81,7 (1985) Ở nước ta, trong một thời gian dài trước Đại hội Đảng lần thứ VI (12- 1986), doanh nghiệp nhà nước đã hình thành và phát triển với một cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, ở tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân từ hàng không, hàng hải, bưu điện, đường sắt, nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh cá đến các dịch vụ đơn giản.
Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và nam 100% các ngành then chốt như điện, khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy công cụ, hóa chất, nhiêu liệu, xi măng, bưu điện viễn thông, giao thông đường sắt và đường thủy, ngoại thương, ngân hàng, quốc phòng và an ninh. Trong công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, lực lượng doanh nghiệp nhà nước cũng chiếm tỷ trọng tuyệt đối lớn hoặc phần lớn đối với các sản phẩm chủ yếu như: 100% hàng dệt kim, thuốc chữa bệnh, bia, 90% quạt điện, 85% giấy viết, 85% vải mặc, 70% xe đạp hoàn chỉnh `. ' Đỗ Hoài Nam: Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế, Nxb. Khoa học xã hội, H.
Các doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 85% vốn cố định của nền kinh tế, 90% lao động có kỹ thuật, cán bộ khoa học và quản lý được đào tạo của cả nước. Nhà nước cũng ưu tiên dành nhiều nguồn lực để phát triển các doanh nghiệp nhà nước. Chi tính riêng trong khoảng 10 năm, từ 1976 đến 1985, Nha nước đã phân bổ khoảng 60-70% vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế và trên 90% vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước. Hàng năm các doanh nghiệp nhà nước đóng góp khoảng 35-40% tổng sản phẩm xã hội và 28-30% thu nhập quốc dân.
Phần thu của ngân sách Nhà nước từ doanh nghiệp nhà nước và thông qua doanh nghiệp nhà nước là phần thu lớn nhất, dao động hàng năm trong khoảng 60-70%. Cũng như nhiều nước khác, việc phát triển các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là một tất yếu khách quan. Trong những năm chiến tranh mặc dù còn có những mặt yếu kém trong cơ chế quản lý, trong hoạch định chính sách nhưng về cơ bản các doanh nghiệp nhà nước và cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã có những đóng góp quyết định trong việc huy động các nguồn lực cho thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ. Sau khi cuộc kháng chiến chống xâm lược thắng lợi và đất nước thống nhất, chúng ta vẫn tiếp tục duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp trong toàn bộ nền kinh tế và đặc biệt trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, nơi đã bộc lộ những yếu kém nghiêm trọng.
Đó là: - Năng suất, chất lượng và hiệu quả rất thấp. Toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước không vượt qua ngưỡng cửa tái sản xuất giản đơn. Tính chung trong vòng 10 năm từ 1976 đến 1985 tỷ lệ chi của Nhà nước và thu từ doanh nghiệp nhà nước là 3:1. - Doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thực thanh - thực chi, giao đủ - nộp đủ.
Nhà nước bao cấp và quyết định giá đầu vào, đầu ra, nên doanh nghiệp không cần phải tính toán hiệu quả kinh doanh. Hoạt động thua lỗ có Nhà nước gánh chịu. - Sự phân phối thu nhập trong doanh nghiệp theo cách bình quân đã làm suy yếu động lực kích thích người lao động, làm việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả. - Bộ máy quản lý doanh nghiệp cồng kềnh, nhiều cấp trung gian với chức năng chồng chéo.
Các cơ quan quản lý thường can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Ban chất phúp lý của doanh nghiệp nhà nước Hầu hết các quốc gia trên thế giới, đều có các doanh nghiệp của mình và, sử dụng chúng như một công cụ để điều tiết nền kinh tế. Và ở các nước khác nhau, khái niệm doanh nghiệp nhà nước được xác định khác nhau. Liên hiệp quốc định nghĩa xí nghiệp quốc doanh là: "Những xí nghiệp do Nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần sở hữu và nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình ra quyết định của xí nghiệp".
Ở nước ta, hiện nay khái niệm doanh nghiệp nhà nước được quy định trong luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 20/4/1995.