Cơ Chế Quốc Tế Bảo Đảm Quyền Con Người: Nghiên Cứu và Phân Tích

Khám phá luận văn thạc sĩ về cơ chế quốc tế đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực luật, phân tích và đánh giá các khía cạnh quan trọng.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật

2002

97
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

1.1. Bản chất quyền con người

1.2. Nguồn gốc quyền con người

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Cơ Chế Quốc Tế Bảo Đảm Quyền Con Người

Quyền con người là vấn đề toàn cầu, được dư luận quốc tế quan tâm sâu sắc. Hiến chương Liên Hợp Quốc mở ra chương mới trong bảo vệ quyền con người. Cùng với văn kiện pháp lý quốc tế, luật quốc tế về quyền con người trở thành ngành luật của hệ thống pháp luật quốc tế. Bảo vệ quyền con người không là nhiệm vụ riêng của quốc gia mà là của toàn thể nhân loại. Cuộc đấu tranh diễn ra trên khắp thế giới. Việc tuân thủ và bảo vệ quyền con người được thực hiện bằng hệ thống pháp luật. Quyền con người có ý nghĩa sống còn đối với nhân loại tiến bộ, có tính lịch sử và có hệ thống pháp luật quốc tế nhằm bảo đảm thực thi việc bảo vệ này. Mặc dù đã có luật pháp nhưng sự vi phạm quyền con người vẫn xảy ra trên nhiều quốc gia và nhiều lĩnh vực.

1.1. Tính Cấp Thiết Của Nghiên Cứu Quyền Con Người

Nghiên cứu về cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người là cần thiết và mang tính nhân đạo sâu sắc. Luật nhân quyền quốc tế là lĩnh vực mới được quan tâm ở Việt Nam. Đi sâu tìm hiểu cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người có ý nghĩa đối với lĩnh vực nghiên cứu và việc bảo vệ quyền con người trong pháp luật quốc tế nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Việc nghiên cứu này giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan và hệ thống hơn về các biện pháp bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu, từ đó có thể áp dụng và phát triển các biện pháp này một cách hiệu quả hơn tại Việt Nam.

1.2. Tình Hình Nghiên Cứu Về Cơ Chế Bảo Vệ Quyền Con Người

Đánh giá dưới góc độ tổng thể, hoạt động của cơ chế bảo đảm quyền con người vẫn còn hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền con người. Do những vấn đề tồn tại này nên thái độ hời hợt, thiếu thiện chí, đối phó với việc bảo vệ quyền con người vẫn tồn tại ở nhiều khu vực trên thế giới. Bên cạnh những hành vi cố tình vi phạm hoặc làm ngơ không chú ý đến việc bảo vệ quyền con người, còn thấy có những hành vi lợi dụng lĩnh vực này để thực hiện những ý đồ riêng. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người quốc tế sẽ khắc phục được tình trạng này, đó sẽ là cơ sở để quyền con người được tôn trọng trên phạm vi toàn cầu.

II. Phân Tích Bản Chất và Nguồn Gốc Quyền Con Người

Quyền con người là những đặc tính tự nhiên vốn có của con người, từ khi sinh ra. Tuyên ngôn nhân quyền thế giới 1948 có viết “Mọi người sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá và các quyền”. Trong tuyên ngôn của hợp chủng quốc Hoa Kỳ có ghi nhận: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng và đồng tạo hoá đã dành cho họ một số quyền không thể bị tước đoạt, trong các quyền đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Trong tất cả các văn kiện pháp lý về quyền con người đều khẳng định quyền con người là quyền của mỗi con người từ khi sinh ra. Điều khẳng định này là hoàn toàn đúng trong xã hội hiện nay bởi trải qua các thời kỳ đấu tranh từ khi xuất hiện loài người, quyền con người đã đạt được những bước tiến bộ đáng kể và nay đã được công nhận là một giá trị cần được nhân loại bảo vệ.

2.1. Nguồn Gốc Tự Nhiên Của Quyền Con Người

Quyền con người là giá trị tự nhiên vốn có của con người từ khi sinh ra. Đó không phải là sự ban phát từ phía Nhà nước hay bất cứ thế lực nào. Con người sẽ được hưởng những quyền này là đương nhiên. Có quan điểm lại cho rằng quyền con người lại phụ thuộc nhiều vào ý trí của Nhà nước. Quan điểm này cho rằng: ”Không có pháp luật thì không có quyền”. Đây là hai quan điểm cơ bản về quyền con người. Trải qua các giai đoạn, thời kỳ phát triển khác nhau quyền con người hiện đang là một vấn đề mang tính toàn cầu. Luật nhân quyền quốc tế và pháp luật quốc gia trở thành công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền con người.

2.2. Vai Trò Của Pháp Luật Trong Bảo Vệ Quyền Con Người

Pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất bảo vệ quyền con người. Hệ thống luật quốc tế và luật quốc gia càng hoàn thiện bao nhiêu thì việc bảo vệ quyền con người càng hiệu quả bấy nhiêu. Giả sử ta cứ thừa nhận rằng quyền con người là một thuộc tính của mỗi con người thể hiện giá trị và phẩm giá của mỗi con người nhưng những giá trị và phẩm giá này sẽ ra sao nếu thiếu sự bảo đảm nhằm bảo vệ cho những giá trị và phẩm giá này. Nhìn lại lịch sử phát triển của loài người ta thấy rõ ràng đây là một quá trình những phẩm giá của con người bị tước đoạt.

2.3. Sự Phát Triển Của Quyền Con Người Qua Các Thời Kỳ

Quá trình phát triển quyền con người trải qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn xuất hiện những tư tưởng về quyền con người. Những khái niệm cơ bản về quyền con người được xuất hiện đầu tiên dưới hình thức triết học và sau đó được thể hiện trong các đạo luật của các quốc gia từ thời cổ đại. Một số quan điểm cho rằng các tư tưởng về quyền con người khởi phát từ những nền văn minh rực rỡ thời cổ đại. Trong giai đoạn này những tư tưởng về quyền con người được đan xen dưới những hình thức khác nhau như tư tưởng tôn giáo, tư tưởng triết học và luật pháp.

III. Cơ Chế Quốc Tế và Vai Trò của Liên Hợp Quốc

Từ khi hình thành đến nay luật bảo vệ con người quốc tế đã phát triển mạnh mẽ với nhiều công ước nhằm bảo vệ quyền con người toàn diện triệt để nhất. Một vấn đề đặt ra ở đây nếu như ta thừa nhận nguyên tắc (không có pháp luật thì không có quyền ) là : Tại sao đã có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh như luật bảo vệ con người quốc tế thì nhiều nơi con người vẫn không có quyền cho dù rất nhiều quyền được luật quốc tế cũng như luật của các quốc gia bảo vệ . Nhiều quốc gia đã ghi nhận quyền con người trong luật pháp quốc gia mình nhưng những quyền đó chỉ trên giấy tờ mà thôi còn thực tế thì những quyền đó không tồn tại với mỗi con người.

3.1. Vai Trò Của Liên Hợp Quốc Trong Bảo Vệ Quyền Con Người

Liên Hợp Quốc đóng vai trò trung tâm trong việc thiết lập và duy trì cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người. Thông qua các công ước, nghị quyết và các cơ quan chuyên môn, Liên Hợp Quốc giám sát, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trên toàn thế giới. Các cơ quan như Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp QuốcỦy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc điều tra, báo cáo và đưa ra khuyến nghị về tình hình quyền con người ở các quốc gia thành viên.

3.2. Các Công Ước Quốc Tế Về Quyền Con Người

Các công ước quốc tế về quyền con người là nền tảng pháp lý quan trọng của cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người. Các công ước này quy định các quyền cụ thể mà các quốc gia thành viên phải tôn trọng, bảo vệ và thực hiện. Ví dụ, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR) là hai công ước quan trọng bao trùm nhiều lĩnh vực của quyền con người.

IV. Thách Thức và Giải Pháp Cho Cơ Chế Bảo Đảm Quyền

Nhiều quốc gia đã ghi nhận quyền con người trong luật pháp quốc gia mình nhưng những quyền đó chỉ trên giấy tờ mà thôi còn thực tế thì những quyền đó không tồn tại với mỗi con người. Như vậy là tình trạng không có quyền cho dù có pháp luật đã xảy ra. Và một vấn đề cần phải xem xét đối với quan điểm “Không có pháp luật thì không có quyền ” là luật pháp có phải là nguồn gốc của quyền con người không ? Từ những quan điểm khác nhau về quyền con người cần phải làm rõ quyền con người xuất phát từ đâu.

4.1. Các Thách Thức Trong Thực Thi Quyền Con Người

Việc thực thi quyền con người trên thực tế đối mặt với nhiều thách thức. Một số quốc gia không có thiện chí thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người. Các vấn đề như xung đột vũ trang, nghèo đói, bất bình đẳng và phân biệt đối xử cũng cản trở việc thực hiện quyền con người. Ngoài ra, sự thiếu hụt nguồn lực và năng lực của các cơ quan nhà nước cũng là một thách thức lớn.

4.2. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Cơ Chế Bảo Đảm Quyền

Để nâng cao hiệu quả của cơ chế bảo đảm quyền con người, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ. Các quốc gia cần tăng cường luật pháp và chính sách bảo vệ quyền con người, đồng thời tăng cường năng lực cho các cơ quan nhà nước. Cần có sự tham gia tích cực của xã hội dân sự trong việc giám sát và thúc đẩy việc thực hiện quyền con người.

4.3. Vai Trò Của Giáo Dục Trong Nâng Cao Nhận Thức Quyền Con Người

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về quyền con người. Cần đưa nội dung về quyền con người vào chương trình giáo dục ở các cấp học. Các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền con người cũng cần được tăng cường. Nâng cao nhận thức về quyền con người sẽ giúp người dân tự bảo vệ quyền của mình và góp phần xây dựng một xã hội tôn trọng quyền con người.

V. Ứng Dụng và Nghiên Cứu Về Cơ Chế Quyền Con Người

Quyền con người được thừa nhận như những thuộc tính, giá trị chỉ riêng có ở con người. Bắt đầu từ xã hội nguyên thuỷ nơi khởi hành của hội loài người ta thấy vào thời điểm này con người sống với nhau thật bình đẳng. Nguyên tắc vàng này thống trị xã hội nguyên thuỷ. Sự bình đẳng này là biểu hiện của việc công nhận giá trị con người của các thành viên trong xã hội. Con người sinh ra trong tự do là bình đẳng không có áp bức chính vì vậy quyền con người không được đưa ra.

5.1. Nghiên Cứu Về Cơ Chế Quốc Tế Bảo Đảm Quyền Con Người

Nghiên cứu về cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người là cần thiết để hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của cơ chế này và những tác động của nó đối với việc bảo vệ quyền con người. Các nghiên cứu có thể tập trung vào các khía cạnh như hiệu quả của các công ước quốc tế, vai trò của các cơ quan Liên Hợp Quốc, và các thách thức trong việc thực thi quyền con người.

5.2. Ứng Dụng Cơ Chế Bảo Vệ Quyền Con Người Trong Thực Tiễn

Việc ứng dụng cơ chế bảo vệ quyền con người trong thực tiễn đòi hỏi sự nỗ lực của các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ. Các quốc gia cần xây dựng luật pháp và chính sách phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người. Các tổ chức quốc tế và phi chính phủ có thể hỗ trợ các quốc gia trong việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người.

VI. Kết Luận và Tương Lai Của Cơ Chế Quyền Con Người

Luật pháp bảo vệ quyền lợi chính đáng của con người đồng thời ngăn cản những hành động xâm phạm đến quyền con người. Nội dung của pháp luật được xây dựng trên cơ sở thừa nhận những giá trị chung của con người. Trong thực tế hiện nay và trong xu thế phát triển của xã hội thì không có pháp luật quyền con người sẽ không được đảm bảo. Rõ ràng là luật pháp không sinh ra quyền con ngườiquyền con người là những giá trị tự nhiên vốn có của con người, không thể chuyển dịch nhưng luật pháp lại có vị trí hết sức quan trọng trong vấn đề thừa nhận và bảo vệ quyền con người.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Hoàn Thiện Cơ Chế Quyền Con Người

Việc hoàn thiện cơ chế quyền con người là cần thiết để đảm bảo rằng tất cả mọi người đều được hưởng các quyền cơ bản của mình. Một cơ chế quyền con người hiệu quả sẽ giúp ngăn ngừa các hành vi vi phạm quyền con người, đồng thời cung cấp các biện pháp khắc phục cho các nạn nhân của các hành vi vi phạm.

6.2. Hướng Phát Triển Của Cơ Chế Quốc Tế Bảo Đảm Quyền

Trong tương lai, cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người cần tiếp tục được củng cố và phát triển. Cần có sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ. Cần có sự đổi mới trong cách tiếp cận để giải quyết các thách thức mới đối với quyền con người, chẳng hạn như các vấn đề liên quan đến công nghệ và biến đổi khí hậu.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ cơ chế quốc tế đảm bảo quyền con người luận văn ths luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu gồm có 3 chƣơng. 3 z CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƢỜI 1. Bản chất quyền con ngƣời 1. Nguồn gốc quyền con ngƣời Là những đặc tính tự nhiên vốn có của con ngƣời, từ khi sinh ra.

Tuyên ngôn nhân quyền thế giới 1948 có viết “Mọi ngƣời sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá và các quyền ” Trong tuyên ngôn của hợp chủng quốc Hoa Kỳ có ghi nhận: “Mọi ngƣời sinh ra đều bình đẳng và đồng tạo hoá đã dành cho họ một số quyền không thể bị tƣớc đoạt, trong các quyền đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mƣu cầu hạnh phúc ”. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 một lần nữa lại khẳng định: “Mọi ngƣời sinh ra sống tự do và bình đẳng về các quyền…”. Trong tất cả các văn kiện pháp lý về quyền con ngƣời đều khẳng định quyền con ngƣời là quyền của mỗi con ngƣời từ khi sinh ra. Điều khẳng định này là hoàn toàn đúng trong xã hội hiện nay bởi trải qua các thời kỳ đấu tranh từ khi xuất hiện loài ngƣời, quyền con ngƣời đã đạt đƣợc những bƣớc tiến bộ đáng kể và nay đã đƣợc công nhận là một giá trị cần đƣợc nhân loại bảo vệ.

Tuy nhiên quyền con ngƣời cũng có những bƣớc thăng trầm của mình. Quyền con ngƣời những giá trị vốn có tự nhiên của con ngƣời cũng có lúc không đƣợc công nhận. Vào thời kỳ cổ đại quyền con ngƣời là một khái niệm mơ hồ nó chỉ xuất hiện trong lĩnh vực tƣ tƣởng, do các nhà tƣ tƣởng đƣa ra. Trong thời điểm này con ngƣời không phải là vấn đề của số đông quan tâm.

Những tƣ tƣởng đầu tiên về quyền con ngƣời gắn liền với các tƣ tƣởng về dân chủ. Vậy quyền con ngƣời có phải bắt nguồn từ những quan điểm, tƣ tƣởng về quyền con ngƣời không ? đứng trên phƣơng diện học thuật và khái niệm thì quyền con ngƣời đƣợc bắt đầu từ những quan điểm do những nhà tƣ tƣởng đƣa ra. Quyền con ngƣời đƣợc hình thành đầu tiên do các tƣ tƣởng nhằm giải phóng con ngƣời. Xét về nguồn gốc, quyền con ngƣời cũng có nhiều quan điểm khác nhau trong lĩnh vực này.

Có quan điểm cho rằng quyền con ngƣời là giá trị tự nhiên vốn có của con ngƣời từ khi sinh ra. Đó không phải là sự ban phát từ phía Nhà nƣớc 4 z hay bất cứ thế lực nào. Con ngƣời sẽ đƣợc hƣởng những quyền này là đƣơng nhiên. Có quan điểm lại cho rằng quyền con ngƣời lại phụ thuộc nhiều vào ý trí của Nhà nƣớc.

Quan điểm này cho rằng:”Không có pháp luật thì không có quyền ”. Đây là hai quan điểm cơ bản về quyền con ngƣời. Trải qua các giai đoạn, thời kỳ phát triển khác nhau quyền con ngƣời hiện đang là một vấn đề mang tính toàn cầu. Luật nhân quyền quốc tế và pháp luật quốc gia trở thành công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền con ngƣời.

Có thể nói rằng pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất bảo vệ quyền con ngƣời. Hệ thống luật quốc tế và luật quốc gia càng hoàn thiện bao nhiêu thì việc bảo vệ quyền con ngƣời càng hiệu quả bấy nhiêu. Giả sử ta cứ thừa nhận rằng quyền con ngƣời là một thuộc tính của mỗi con ngƣời thể hiện giá trị và phẩm giá của mỗi con ngƣời nhƣng những giá trị và phẩm giá này sẽ ra sao nếu thiếu sự bảo đảm nhằm bảo vệ cho những giá trị và phẩm giá này. Nhìn lại lịch sử phát triển của loài ngƣời ta thấy rõ ràng đây là một quá trình những phẩm giá của con ngƣời bị tƣớc đoạt.

Con ngƣời sinh ra vốn đã bình đẳng và có quyền đƣợc sống nhƣng sao con ngƣời lại trở thành những công cụ biết nói vào thời chiếm hữu nô lệ, họ bị trà đạp cả về thể xác lẫn tinh thần và có thể bị tƣớc đoạt mạng sống bất cứ lúc nào. Trong thế kỷ XX những thành tựu khoa học kỹ thuật đã đƣa nền văn minh loài ngƣời phát triển rực rỡ thì hàng triệu ngƣời ở những nƣớc nghèo tại Châu Phi, Châu Á vẫn bị coi là nô lệ cho những ông chủ ở những nƣớc đế quốc. Sự bình đẳng đƣợc coi là giá trị gắn liền với con ngƣời từ khi sinh ra đã không còn kiên hữu trong xã hội những nƣớc thuộc địa và trên thân phận ngƣời nô lệ. Sự phân biệt đối xử dựa trên mầu da và giới tính vẫn còn phổ biến trên thế giới hiện nay.

Những yếu tố kinh tế đã khiến sự bình đẳng và giá trị con ngƣời hiện nay còn lại rất mơ hồ. Hàng loạt những vấn đề về quyền con ngƣời vẫn xảy ra thƣờng xuyên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ngay tại những quốc gia giầu có và hùng mạnh nhất thế giới vẫn tồn tại những vấn đề về quyền con ngƣời. Quyền con ngƣời là những thuộc tính, những giá trị cơ bản của con ngƣời vậy thuộc tính và giá trị này phải đƣợc tồn tại nhƣ nhau ở các Châu Lục và các quốc gia khác nhau.

Có một điều hiển nhiên rằng quyền con ngƣời đã không đƣợc tôn trọng nhƣ nhau tại những quốc gia khác nhau. Tại một số nƣớc theo đạo 5 z hồi thì quyền của phụ nữ bị hạn chế so với phụ nữ ở quốc gia khác, hay tại một số nƣớc nghèo quyền trẻ em không đƣợc bảo đảm nhƣ ở một số quốc gia phát triển trên thế giới. Những giá trị về thuộc tính vốn có của con ngƣời đã không giống nhau do điều kiện kinh tế địa lý tại những quốc gia khác nhau, theo hƣớng này và em ra quan điểm “Không có pháp luật thì không có quyền ” đã đúng trong việc xác định nguồn gốc quyền con ngƣời. Sở dĩ có sự khác nhau về tình trạng quyền con ngƣời là do có sự khác nhau về luật pháp ở những quốc gia khác nhau.

Tại một quốc gia có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh hơn về việc bảo vệ quyền con ngƣời thì những giá trị của con ngƣời sẽ đƣợc bảo vệ chặt chẽ hơn so với những quốc gia có hệ thống pháp luật kém hoàn chỉnh và không quan tâm đến lĩnh vực quyền con ngƣời. Dƣới góc độ pháp luật, quyền con ngƣời đƣợc bảo vệ theo hai hƣớng tác động là pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Xét trên phƣơng diện Luật quốc tế thì quyền con ngƣời cũng đƣợc bảo vệ trên hai hệ thống đó là Luật quốc tế và luật pháp của khu vực nhƣ ở châu Âu hoặc Châu Mỹ. Từ khi hình thành đến nay luật bảo vệ con ngƣời quốc tế đã phát triển mạnh mẽ với nhiều công ƣớc nhằm bảo vệ quyền con ngƣời toàn diện triệt để nhất.

Một vấn đề đặt ra ở đây nếu nhƣ ta thừa nhận nguyên tắc (không có pháp luật thì không có quyền ) là : Tại sao đã có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhƣ luật bảo vệ con ngƣời quốc tế thì nhiều nơi con ngƣời vẫn không có quyền cho dù rất nhiều quyền đƣợc luật quốc tế cũng nhƣ luật của các quốc gia bảo vệ. Nhiều quốc gia đã ghi nhận quyền con ngƣời trong luật pháp quốc gia mình nhƣng những quyền đó chỉ trên giấy tờ mà thôi còn thực tế thì những quyền đó không tồn tại với mỗi con ngƣời. Nhƣ vậy là tình trạng không có quyền cho dù có pháp luật đã xảy ra. Và một vấn đề cần phải xem xét đối với quan điểm “Không có pháp luật thì không có quyền ” là luật pháp có phải là nguồn gốc của quyền con ngƣời không ? Từ những quan điểm khác nhau về quyền con ngƣời cần phải làm rõ quyền con ngƣời xuất phát từ đâu.

Quyền con ngƣời đƣợc thừa nhận nhƣ những thuộc tính, giá trị chỉ riêng có ở con ngƣời. Bắt đầu từ xã hội nguyên thuỷ nơi khởi hành của hội loài ngƣời ta thấy vào thời điểm này con ngƣời sống với nhau thật bình đẳng. Nguyên tắc vàng này thống trị xã hội nguyên thuỷ. Sự bình đẳng này là biểu 6 z hiện của việc công nhận giá trị con ngƣời của các thành viên trong xã hội.

Con ngƣời sinh ra trong tự do là bình đẳng không có áp bức chính vì vậy quyền con ngƣời không đƣợc đƣa ra. Theo tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 thì mọi ngƣời sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá và các quyền thì xã hội nguyên thuỷ đã đạt đến lý tƣởng này, một quan điểm thể hiện giá trị đích thực về quyền con ngƣời. Xã hội nguyên thuỷ là một xã hội không có luật pháp cũng nhƣ các vấn đề về quyền con ngƣời. Nhƣng có đầy đủ các yếu tố thể hiện giá trị cũng nhƣ các thuộc tính vốn có của con ngƣời tồn tại trong xã hội nguyên thuỷ.

Cách nhìn nhận quyền con ngƣời là những giá trị tự nhiên vốn có của con ngƣời chỉ có thể nói rằng quyền con ngƣời sinh ra không phải do pháp luật vì khi không có pháp luật quyền con ngƣời vẫn đƣợc thực hiện một cách tự nhiên và con ngƣời vẫn đƣợc tôn trọng những giá trị vốn có của mình. Sau các lần phân công lao động xã hội nguyên thuỷ phát triển, giai cấp xuất hiện. Cùng với sự xuất hiện của giai cấp, Nhà nƣớc và pháp luật đã ra đời. Vào thời kỳ Nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ nhiều bộ luật đã ra đời mà điển hình là luật Hammurabi và luật la mã.

Cùng với thời điểm này xuất hiện một số quan điểm, tƣ tƣởng về quyền con ngƣời. Các nhà triết học Hy lạp cổ đại đã đề cập đến vai trò của cá nhân đối với xã hội mà đặc biệt là vai trò của cá nhân trong việc quản lý xã hội, chính trị đã trở thành vấn đề đầu tiên của cuộc tranh luật triết học trên phƣơng diện quyền con ngƣời, vấn đề này còn theo mãi lịch sử phƣơng tây. Do sự bất bình đẳng trong xã hội, thân phận của những ngƣời nô lệ bị đè nén đến cùng cực, nhiều cuộc khởi nghĩa của nô lệ đã nổ ra nhằm chống lại Nhà nƣớc chủ nô. Năm 136 – 132 trƣớc công nguyên và cuộc khởi nghĩa 104 –99 trƣớc công nguyên trên Đảng Xixin đã xảy ra hai cuộc khởi nghĩa lớn.

Đáng chú ý hơn là cuộc khởi nghĩa của Xpactacuxơ 73 – 71 trƣớc công nguyên. Những cuộc khởi nghĩa trên chính là những cuộc đòi quyền bình đẳng và tự do của những ngƣời nô lệ. Xét trên phƣơng diện chung luật pháp không làm sinh ra quyền con ngƣời. Pháp luật đã hình thành từ khi xã hội phân chia thành hai giai cấp bị trị và thống trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu Cơ Chế Quốc Tế Bảo Đảm Quyền Con Người: Nghiên Cứu và Phân Tích cung cấp cái nhìn sâu sắc về các cơ chế quốc tế nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trên toàn cầu. Tác giả phân tích các hiệp định, tổ chức và quy trình liên quan, đồng thời chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc thực thi quyền con người. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về cách thức mà các cơ chế này hoạt động, cũng như tầm quan trọng của chúng trong bối cảnh toàn cầu hiện nay.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Vai trò của liên hiệp quốc trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới, nơi trình bày vai trò của Liên Hiệp Quốc trong việc duy trì hòa bình, một yếu tố quan trọng liên quan đến quyền con người. Ngoài ra, tài liệu Cơ chế quốc tế đảm bảo quyền con người sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các cơ chế cụ thể được áp dụng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Can thiệp nhân đạo trong luật quốc tế hiện đại, một khía cạnh quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người trong các tình huống khẩn cấp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến quyền con người và các cơ chế bảo vệ chúng.