phần mở đầu gồm có 3 chƣơng. 3 z CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CON NGƢỜI 1. Bản chất quyền con ngƣời 1. Nguồn gốc quyền con ngƣời Là những đặc tính tự nhiên vốn có của con ngƣời, từ khi sinh ra.
Tuyên ngôn nhân quyền thế giới 1948 có viết “Mọi ngƣời sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá và các quyền ” Trong tuyên ngôn của hợp chủng quốc Hoa Kỳ có ghi nhận: “Mọi ngƣời sinh ra đều bình đẳng và đồng tạo hoá đã dành cho họ một số quyền không thể bị tƣớc đoạt, trong các quyền đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mƣu cầu hạnh phúc ”. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 một lần nữa lại khẳng định: “Mọi ngƣời sinh ra sống tự do và bình đẳng về các quyền…”. Trong tất cả các văn kiện pháp lý về quyền con ngƣời đều khẳng định quyền con ngƣời là quyền của mỗi con ngƣời từ khi sinh ra. Điều khẳng định này là hoàn toàn đúng trong xã hội hiện nay bởi trải qua các thời kỳ đấu tranh từ khi xuất hiện loài ngƣời, quyền con ngƣời đã đạt đƣợc những bƣớc tiến bộ đáng kể và nay đã đƣợc công nhận là một giá trị cần đƣợc nhân loại bảo vệ.
Tuy nhiên quyền con ngƣời cũng có những bƣớc thăng trầm của mình. Quyền con ngƣời những giá trị vốn có tự nhiên của con ngƣời cũng có lúc không đƣợc công nhận. Vào thời kỳ cổ đại quyền con ngƣời là một khái niệm mơ hồ nó chỉ xuất hiện trong lĩnh vực tƣ tƣởng, do các nhà tƣ tƣởng đƣa ra. Trong thời điểm này con ngƣời không phải là vấn đề của số đông quan tâm.
Những tƣ tƣởng đầu tiên về quyền con ngƣời gắn liền với các tƣ tƣởng về dân chủ. Vậy quyền con ngƣời có phải bắt nguồn từ những quan điểm, tƣ tƣởng về quyền con ngƣời không ? đứng trên phƣơng diện học thuật và khái niệm thì quyền con ngƣời đƣợc bắt đầu từ những quan điểm do những nhà tƣ tƣởng đƣa ra. Quyền con ngƣời đƣợc hình thành đầu tiên do các tƣ tƣởng nhằm giải phóng con ngƣời. Xét về nguồn gốc, quyền con ngƣời cũng có nhiều quan điểm khác nhau trong lĩnh vực này.
Có quan điểm cho rằng quyền con ngƣời là giá trị tự nhiên vốn có của con ngƣời từ khi sinh ra. Đó không phải là sự ban phát từ phía Nhà nƣớc 4 z hay bất cứ thế lực nào. Con ngƣời sẽ đƣợc hƣởng những quyền này là đƣơng nhiên. Có quan điểm lại cho rằng quyền con ngƣời lại phụ thuộc nhiều vào ý trí của Nhà nƣớc.
Quan điểm này cho rằng:”Không có pháp luật thì không có quyền ”. Đây là hai quan điểm cơ bản về quyền con ngƣời. Trải qua các giai đoạn, thời kỳ phát triển khác nhau quyền con ngƣời hiện đang là một vấn đề mang tính toàn cầu. Luật nhân quyền quốc tế và pháp luật quốc gia trở thành công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền con ngƣời.
Có thể nói rằng pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất bảo vệ quyền con ngƣời. Hệ thống luật quốc tế và luật quốc gia càng hoàn thiện bao nhiêu thì việc bảo vệ quyền con ngƣời càng hiệu quả bấy nhiêu. Giả sử ta cứ thừa nhận rằng quyền con ngƣời là một thuộc tính của mỗi con ngƣời thể hiện giá trị và phẩm giá của mỗi con ngƣời nhƣng những giá trị và phẩm giá này sẽ ra sao nếu thiếu sự bảo đảm nhằm bảo vệ cho những giá trị và phẩm giá này. Nhìn lại lịch sử phát triển của loài ngƣời ta thấy rõ ràng đây là một quá trình những phẩm giá của con ngƣời bị tƣớc đoạt.
Con ngƣời sinh ra vốn đã bình đẳng và có quyền đƣợc sống nhƣng sao con ngƣời lại trở thành những công cụ biết nói vào thời chiếm hữu nô lệ, họ bị trà đạp cả về thể xác lẫn tinh thần và có thể bị tƣớc đoạt mạng sống bất cứ lúc nào. Trong thế kỷ XX những thành tựu khoa học kỹ thuật đã đƣa nền văn minh loài ngƣời phát triển rực rỡ thì hàng triệu ngƣời ở những nƣớc nghèo tại Châu Phi, Châu Á vẫn bị coi là nô lệ cho những ông chủ ở những nƣớc đế quốc. Sự bình đẳng đƣợc coi là giá trị gắn liền với con ngƣời từ khi sinh ra đã không còn kiên hữu trong xã hội những nƣớc thuộc địa và trên thân phận ngƣời nô lệ. Sự phân biệt đối xử dựa trên mầu da và giới tính vẫn còn phổ biến trên thế giới hiện nay.
Những yếu tố kinh tế đã khiến sự bình đẳng và giá trị con ngƣời hiện nay còn lại rất mơ hồ. Hàng loạt những vấn đề về quyền con ngƣời vẫn xảy ra thƣờng xuyên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ngay tại những quốc gia giầu có và hùng mạnh nhất thế giới vẫn tồn tại những vấn đề về quyền con ngƣời. Quyền con ngƣời là những thuộc tính, những giá trị cơ bản của con ngƣời vậy thuộc tính và giá trị này phải đƣợc tồn tại nhƣ nhau ở các Châu Lục và các quốc gia khác nhau.
Có một điều hiển nhiên rằng quyền con ngƣời đã không đƣợc tôn trọng nhƣ nhau tại những quốc gia khác nhau. Tại một số nƣớc theo đạo 5 z hồi thì quyền của phụ nữ bị hạn chế so với phụ nữ ở quốc gia khác, hay tại một số nƣớc nghèo quyền trẻ em không đƣợc bảo đảm nhƣ ở một số quốc gia phát triển trên thế giới. Những giá trị về thuộc tính vốn có của con ngƣời đã không giống nhau do điều kiện kinh tế địa lý tại những quốc gia khác nhau, theo hƣớng này và em ra quan điểm “Không có pháp luật thì không có quyền ” đã đúng trong việc xác định nguồn gốc quyền con ngƣời. Sở dĩ có sự khác nhau về tình trạng quyền con ngƣời là do có sự khác nhau về luật pháp ở những quốc gia khác nhau.
Tại một quốc gia có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh hơn về việc bảo vệ quyền con ngƣời thì những giá trị của con ngƣời sẽ đƣợc bảo vệ chặt chẽ hơn so với những quốc gia có hệ thống pháp luật kém hoàn chỉnh và không quan tâm đến lĩnh vực quyền con ngƣời. Dƣới góc độ pháp luật, quyền con ngƣời đƣợc bảo vệ theo hai hƣớng tác động là pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Xét trên phƣơng diện Luật quốc tế thì quyền con ngƣời cũng đƣợc bảo vệ trên hai hệ thống đó là Luật quốc tế và luật pháp của khu vực nhƣ ở châu Âu hoặc Châu Mỹ. Từ khi hình thành đến nay luật bảo vệ con ngƣời quốc tế đã phát triển mạnh mẽ với nhiều công ƣớc nhằm bảo vệ quyền con ngƣời toàn diện triệt để nhất.
Một vấn đề đặt ra ở đây nếu nhƣ ta thừa nhận nguyên tắc (không có pháp luật thì không có quyền ) là : Tại sao đã có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhƣ luật bảo vệ con ngƣời quốc tế thì nhiều nơi con ngƣời vẫn không có quyền cho dù rất nhiều quyền đƣợc luật quốc tế cũng nhƣ luật của các quốc gia bảo vệ. Nhiều quốc gia đã ghi nhận quyền con ngƣời trong luật pháp quốc gia mình nhƣng những quyền đó chỉ trên giấy tờ mà thôi còn thực tế thì những quyền đó không tồn tại với mỗi con ngƣời. Nhƣ vậy là tình trạng không có quyền cho dù có pháp luật đã xảy ra. Và một vấn đề cần phải xem xét đối với quan điểm “Không có pháp luật thì không có quyền ” là luật pháp có phải là nguồn gốc của quyền con ngƣời không ? Từ những quan điểm khác nhau về quyền con ngƣời cần phải làm rõ quyền con ngƣời xuất phát từ đâu.
Quyền con ngƣời đƣợc thừa nhận nhƣ những thuộc tính, giá trị chỉ riêng có ở con ngƣời. Bắt đầu từ xã hội nguyên thuỷ nơi khởi hành của hội loài ngƣời ta thấy vào thời điểm này con ngƣời sống với nhau thật bình đẳng. Nguyên tắc vàng này thống trị xã hội nguyên thuỷ. Sự bình đẳng này là biểu 6 z hiện của việc công nhận giá trị con ngƣời của các thành viên trong xã hội.
Con ngƣời sinh ra trong tự do là bình đẳng không có áp bức chính vì vậy quyền con ngƣời không đƣợc đƣa ra. Theo tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 thì mọi ngƣời sinh ra đều bình đẳng về phẩm giá và các quyền thì xã hội nguyên thuỷ đã đạt đến lý tƣởng này, một quan điểm thể hiện giá trị đích thực về quyền con ngƣời. Xã hội nguyên thuỷ là một xã hội không có luật pháp cũng nhƣ các vấn đề về quyền con ngƣời. Nhƣng có đầy đủ các yếu tố thể hiện giá trị cũng nhƣ các thuộc tính vốn có của con ngƣời tồn tại trong xã hội nguyên thuỷ.
Cách nhìn nhận quyền con ngƣời là những giá trị tự nhiên vốn có của con ngƣời chỉ có thể nói rằng quyền con ngƣời sinh ra không phải do pháp luật vì khi không có pháp luật quyền con ngƣời vẫn đƣợc thực hiện một cách tự nhiên và con ngƣời vẫn đƣợc tôn trọng những giá trị vốn có của mình. Sau các lần phân công lao động xã hội nguyên thuỷ phát triển, giai cấp xuất hiện. Cùng với sự xuất hiện của giai cấp, Nhà nƣớc và pháp luật đã ra đời. Vào thời kỳ Nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ nhiều bộ luật đã ra đời mà điển hình là luật Hammurabi và luật la mã.
Cùng với thời điểm này xuất hiện một số quan điểm, tƣ tƣởng về quyền con ngƣời. Các nhà triết học Hy lạp cổ đại đã đề cập đến vai trò của cá nhân đối với xã hội mà đặc biệt là vai trò của cá nhân trong việc quản lý xã hội, chính trị đã trở thành vấn đề đầu tiên của cuộc tranh luật triết học trên phƣơng diện quyền con ngƣời, vấn đề này còn theo mãi lịch sử phƣơng tây. Do sự bất bình đẳng trong xã hội, thân phận của những ngƣời nô lệ bị đè nén đến cùng cực, nhiều cuộc khởi nghĩa của nô lệ đã nổ ra nhằm chống lại Nhà nƣớc chủ nô. Năm 136 – 132 trƣớc công nguyên và cuộc khởi nghĩa 104 –99 trƣớc công nguyên trên Đảng Xixin đã xảy ra hai cuộc khởi nghĩa lớn.
Đáng chú ý hơn là cuộc khởi nghĩa của Xpactacuxơ 73 – 71 trƣớc công nguyên. Những cuộc khởi nghĩa trên chính là những cuộc đòi quyền bình đẳng và tự do của những ngƣời nô lệ. Xét trên phƣơng diện chung luật pháp không làm sinh ra quyền con ngƣời. Pháp luật đã hình thành từ khi xã hội phân chia thành hai giai cấp bị trị và thống trị.