Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu là các trƣờng đại học và các hoạt động khoa học Ở nƣớc ta, những năm gần đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề tài chính của nền kinh tế cũng nhƣ cho hoạt động giáo dục và đào tạo và hoạt động KH&CN trong các trƣờng đại học. Có thể nêu lên một số công trình mà ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác đã đề cập đến cơ chế quản lý tài chính cho KH&CN nói chung, cho các trƣờng đại học nói riêng.
Về bản chất của cơ chế quản lý tài chính cho KH&CN, trong đề tài cấp Bộ B2003.76TĐ: Hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính đối với hoạt động KH&CN trong các trường đại học Việt Nam do Mai Ngọc Cƣờng chủ trì đã viết: Cơ chế chính sách tài chính đối với hoạt động KH&CN bao gồm cơ chế chính sách huy động, sử dụng và quản lý các nguồn tài chính đầu tư cho KH&CN.125: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập ở Việt Nam do Vũ Duy Hào chủ trì, cũng chỉ rõ “Cơ chế quản lý tài chính được hiểu là tổng thể các phương pháp, hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý hoạt động tài chính của một đơn vị trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Các công trình nghiên cứu trên cũng đã đề cập đến nguồn tài chính cho KH&CN trong các trƣờng đại học. Trong đề tài cấp Bộ B2003.76TĐ viết: Có nhiều cách phân loại nguồn tài chính đầu tư cho KH&CN. Trong đề tài này, các nguồn tài chính đầu tƣ cho KH&CN đƣợc chia thành hai nguồn: Nguồn từ ngân sách nhà nước; Nguồn ngoài ngân sách nhà nước.
Tác giả cũng đã làm rõ vị trí, vai trò, cơ cấu nội dung, các nhân tố ảnh hƣởng đến nguồn đầu tƣ tài chính cho KH&CN. 4 z Ngoài ra, vấn đề cơ chế quản lý tài chính cho KH&CN nói chung, trong các trƣờng đại học nói riêng còn đƣợc đề cập tới trong một số công trình, bài viết khác nhƣ: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tài chính với việc phát triển khoa học - công nghệ, của Học viện Tài chính, Hà Nội 3/2003; Đổi mới quản lý tài chính từ ngân sách Nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ, Mai Ngọc Cƣờng, Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Kiểm toán Nhà nƣớc - Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức, Hà Nội, tháng 8/2006; Về cơ chế quản lý tài chính chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 5 năm 2001-2005, Nguyễn Trƣờng Giang, Tạp chí Kiểm toán, số tháng 9/2006; Thông tư liên tịch số 93/2006/TTL/BTC-BKHCN: Tự chủ hơn trong việc sử dụng dự toán kinh phí của đề tài, dự án. Nguyễn Minh Hoà, Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 11/2006, Chi cho KH&CN: Hiệu quả khó "đong đếm" Minh Nguyệt T/c Hoạt động khoa học, số tháng 9/2006; Đổi mới chính sách tài chính đối với KH&CN, Nguyễn Thị Anh Thƣ, T/c Hoạt động khoa học, số tháng 3/2006; Quản lý, cấp phát, thanh toán kinh phí sự nghiệp khoa học giai đoạn 2001- 2005, những bất cập và kiến nghị, Trần Xuân Trí, Tạp chí Kiểm toán, tháng 9/2006;. Tổng quan tình hình nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu khác - Các công trình nghiên cứu về chủ trƣơng xã hội hóa các dịch vụ công của nhà nƣớc, cụ thể là: + Mở rộng hơn nữa quyền tự chủ đối với các ĐVSN (Huỳnh Thị Nhân, Tạp chí tài chính số 1 năm 2005) + Mở rộng quyền chủ động tài chính cho các đơn vị sử dụng ngân sách (Vĩnh Sang, Tạp chí Tài chính số 8 năm 2005) + Cơ chế quản lý tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu, (http://WWW.vn, ngày 14/10/2004) + Cơ chế khoán biên chế và kinh phí (http://WWW.
Các công trình này chủ yếu bình luận về tính đúng đắn của chủ trƣơng xã hội hóa trên các mặt tăng quy mô và chủng loại dịch vụ, nhất là dịch vụ y tế và giáo 5 z dục, tăng ý thức trách nhiệm của công dân và các đơn vị trong cung cấp, lựa chọn, kiểm soát và trả phí theo chất lƣợng dịch vụ, tăng tính cạnh tranh và sức ép buộc các đơn vị sự nghiệp của Nhà nƣớc phải cải thiện hoạt động của mình. Một số công trình cũng phân tích những yếu kém khi triển khai thực hiện chủ trƣơng xã hội hóa dịch vụ công. - Các công trình nghiên cứu về thực trạng đổi mới cơ chế quản lý, nhất là đổi mới cơ chế quản lý tài chính, ở các đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc theo hƣớng mở rộng quyền tự chủ tài chính cho cơ sở, cụ thể là: + Luận văn thạc sĩ của Bùi Xuân Huy năm 2014 về đề tài: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật. + Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Ngà năm 2012.
Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Viện Khoa học và Công nghệ Giao Thông Vận tải. Đánh giá tổng quan và nhƣ̃ng vấ n đề đă ̣t ra cầ n tiế p tu ̣c nghiên cƣ́u Thông qua tổ ng quan các công trin ̀ h nghiên cƣ́u liên quan đế n luận án lƣ̣a chọn, ngƣời thực hiện xin có mô ̣t số đánh giá nhƣ sau: Thứ nhấ t, đa số các nhóm nghiên cƣ́u về nghiên cứu cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu cho các trƣờng đại học và hoạt động khoa học. Thứ hai, nhóm nghiên cứu về đối với đơn vị sự nghiệp có thu về chủ trƣơng xã hội hóa các dịch vụ công của nhà nƣớc; về thực trạng đổi mới cơ chế quản lý, nhất là đổi mới cơ chế quản lý tài chính, ở các đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc theo hƣớng mở rộng quyền tự chủ tài chính cho cơ sở Nhƣ vâ ̣y, chƣa có nghiên cƣ́u nào đi sâu phân tić h và đánh giá thƣ̣c tra ̣ng thƣ̣c hiê ̣n cơ chế quản lý tài chính tại Viện Công nghệ môi trƣờng, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Với nhâ ̣n đinh ̣ , ngƣời thực hiện luận văn quyế t đinh ̣ lƣ̣a chọn vấn đề nghiên cứu “ Cơ chế quản lý tài chính tại Viện Công nghệ môi trƣờng, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam”.
Cụ thể nội dung nghiên cứu là: Một là, Hệ thống hóa một số quan điểm, làm rõ các khái niệm, phân loại, vai trò, cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu và cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ 6 z Hai là, Nghiên cứu, khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính của Viện Công nghệ môi trƣờng, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, đồng thời lý giải nguyên nhân của thực trạng này. Ba là , đƣa ra cơ chế quản lý tài chính tại Viện Công nghệ môi trƣờng, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt nam. TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu Đơn vị sự nghiệp là những tổ chức đƣợc thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, những hoạt động này nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thƣờng của xã hội, mang tính chất phục vụ là chủ yếu, không vì mục tiêu lợi nhuận [14].
Đơn vị sự nghiệp công lập có thu là những đơn vị do Nhà nƣớc thành lập hoạt động có thu thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thƣờng của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trƣờng, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm. Đơn vị sự nghiệp có thu công lập gọi tắt là đơn vị sự nghiệp có thu (SNCT) đƣợc xác định bởi các đặc điểm cơ bản sau [14]: - Do các cơ quan Đảng, Nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập mà trong đó chủ yếu là do cơ quan hành chính Nhà nƣớc thành lập. Căn cứ vào vị trí và phạm vi hoạt động mà các đơn vị sự nghiệp có thu mà Thủ trƣởng cơ quan cấp quản lý trực tiếp ra quyết định thành lập.
- Trong quá trình hoạt động đƣợc Nhà nƣớc cho phép thu các loại phí để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức và bổ sung tái tạo chi phí hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị. - Nhằm cung cấp dịch vụ công cho xã hội (thực hiện hoạt động sự nghiệp đƣợc Nhà nƣớc uỷ quyền) không nhằm mục đích sinh lời. - Có tƣ cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Tức các đơn vị sự nghiệp có thu đáp ứng đầy đủ bốn tiêu chí: (1) Đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; (2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách 7 z nhiệm bằng các tài sản đó; (4) Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập (Điều 9, Bộ luật Dân sự nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu Các đơn vị SNCT có một đặc điểm chung, đó là bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ đƣợc giao, các đơn vị còn tận dụng nguồn lực hiện có của mình để thực hiện một số hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ trong khuôn khổ luật pháp cho phép, có mang lại nguồn thu góp phần làm tăng thu cho NSNN, đồng thời hỗ trợ một phần cho các nhiệm vụ chi thƣờng xuyên của đơn vị. Nguồn thu từ các hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ và các hoạt động khác của đơn vị sự nghiệp không giống nhau, nó tùy thuộc vào nhiều nhân tố nhƣ: lĩnh vực, quy mô và địa bàn hoạt động của đơn vị; khả năng tận dụng tối đa các nguồn lực có sẵn; tính năng động, sáng tạo của đơn vị. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, đơn vị SNCT bao gồm Đơn vị SNCT hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật: Bao gồm: Các đoàn nghệ thuật (Ca múa nhạc kịch, cải lƣơng, chèo, tuồng, múa rối, xiếc.