CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU TIÊU THOÁT NƯỚC 1-11 Tổng quan nghiên cứu thoát nước đô thị trên thé giới Nghiên cứu ngập úng và tiêu thoát nước đặc biệt là ở các vùng đô thị đã và đang là thách. thức lớn ở nhiều nước trên thể giới nhất là rong bồi cảnh biển đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng (NBD) trang thi khí hu cực đoan ngày cảng di ra vớitẫn suất nhiều hơn và ngày cảng phức tạp dẫn đến thiên ai như mira, bão ngày một nghiêm trong. Có thể nói ng vige giải quyết vấn để tiêu thoát nước cho đô thị có từ ngàn năm trước. "Những năm 1850 ở cá thành phố của Anh đã có những công tinh cổng.
thoát nước rit lớn như Bazalgete ở Luân Đôn. Khoảng những năm 1950-1960 có bước tiến về kỹ thuật công trình là hệ thống phân tách nước mưa và nước thải ‘nh hoạt va công nghiệp. ‘Tir những năm 1970 đã hình thành các cơ quan quản lý nhà nước về tiêu thoát nước đô thị và thành lập nhữngtổ chức nghiên cứu kỹ thuật công trình tiêu thoát nước đô thị như UDFCD của than phố Denver bang Colorado thành lập năm 1969, cơ quan quản lý của ‘Anh và Wale thành lập năm 1974. Bén những năm 1980 nhờ phát tiễn công nghệ phần xi tính mô phỏng hệ thống tiêu thoát nước đã im tăng hiệu quả kinh tế của các công trinh tiêu thoát nước và sáng tỏ nhiều vấn đề kỹ thuật LILI Nghiên cửa về tác động của biến đỗi khi hậu BDKH thực sự đã tác động lớn đến quá trình thủy văn tại các lưu vực sông trên thể giới nói chung và lệt Nam nồi riêng, k của của nó đã gây ra các hiện tượng thiên tai sức phức tạp như lũ lụt, hạn hán trong vũng và đặc trên các lưu vục sông.
này đã ảnh hưởng trực iếp dn việc quan lý, cung cắp và phân bổ nguồn nước ti các khu vực, sẽ là những thách hức rit lớn đối với các nhà quản lý quy hoạch và phát tiễn tải nguyễn nước “rong những năm gần đây một số nhà khoa học đã quan tim và nghiên cầu về diễn biển của BDKH nguyên nhân do sự gia ting các hoại động tạo ra các chất thi khí nhà kính tác động lên kh hậu toàn cầu như: BDKH đã ảnh hưởng đến sự thay đổi lượng mưa và nh trong ba thập kỷ qua có sự thay đổi lớn, và nghiên cứu. cũng chi a rong ba thập niên tới tại Hàn Quốc ở các lưu vực nhỏ sẽ tăng từ 6.3% lượng mưa, và nhiệ độ không khí ó xu hướng tăng thêm từ 0 FC đến 32C [1] Đối với Việt Nam trong năm thập niên qua (1958 — 2007) nhiệt độ trung bình đã tăng lên vào khoảng 0. Thêm vào đó, một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng 'BĐKH có ảnh hưởng khác nhau tại các vùng trên thể giới, tại Châu Âu nhiệt độ trung. bình năm có xu hướng tăng nhiều hơn so với nhiệt độ BĐKH trung bình toàn cầu, kết «qu cũng chỉ ra nhiệt độ ting mạnh nhất vào mùa hé vùng Địa Trung Hải nhưng lượng mưa có xu hướng giảm dn trong thời gian này [3].
Ngoài ra, ác động của biến đổi khí hậu đã ảnh trực tiếp đến chế độ thủy văn và đồng chảy mặt của lưu vực được thể hiện «qua một số kết quả nghiên cứu như Lee [4] Bên cạnh đó, một vài nghiên cứu chỉ ra ring sản xuất lương thực dang và sẽ gặp nhiề rủi ro vi những tắc động của hiện tượng biến đổi khí hậu [5] "Từ các nghiên cứu trên cho thấy về tác động và những giải pháp trước nh trạng BĐKH là một tong những van dé đã, đang và sẽ được quan tâm, đặc biệt tác động của BDKHT theo điễn biến ngày một cực đoan khổ lường gây ra nhiễu tác động xâu như ứng ngập do mưa lớn gi các khu đ thị, các thành phố. Nghiên cửu giải pháp thu trữ nước mica giãm ngập ứng đô tị gập ting đặc bi Tà ở các vùng dé thị đã và dang là thách thức lớn ở nhiễu nước trên thé giới, nhất là trong bỗi cảnh BĐKH và NBD, trạng th í hậu cực đoan ngày cảng, diễn ra với tần suất nhiễu hơn và ngày cảng phức tạp dẫn đến thiên tai như mưa, bão ngày một nghiêm trọng. Ngập ting đặc biệt là ở các vũng đô thị đã và đang là thách thức lớn ở nhiều nước trên. thé giới, nhất à rong bồi cảnh biến đổi khí hậu, nước biển ding, trạng thi khí hậu cục đoan ngày cing diễn ra với tin suất nhiều hon và ngày càng phức tạp dẫn đến thiên tai như mua, bão ngày một nghiêm trọng.
Trong nghiên cứu về đánh giá tác động của. BĐKII và thích ứng BĐKH của hệ thống thoát nước ở Dan Mạch, Thụy Điễn. Kết quả nghiên cứu cho thấy về tác động BĐKH li làm gia tăng lượng và đỉnh dòng chảy trên đồ thị do gia tăng về cường độ mưa đưới tác động của BĐKH. Chính sự gia tăng này.
lâm cho cơ sở hạ ting không đáp ứng yêu cả tiêu thoát và dẫn đến tình trang ngập ứng. Từ ngi nhân này, các biện pháp thích ứng được đề xuất như gia tăng kích thước đường ống, tăng khả năng trữ trên hệ thống. Nghiên cứu này sử dụng kịch bản BĐKH A2 để đánh giá, theo đó lượng mưa tại Dan Mạch theo kịch bản A2 tăng trung bình 20 § = 50%. Kết quả của nghiên cứu đã đề xuất cin xây dựng những hướng dẫn trong thiết kể hệ thống tiêu thoát có xem xét tới BĐKH, cần có những phương pháp và quy trình mới cho phù hợp với điều kiện BDKH.
Trong nghiên cứu về tinh tổn thương của hệ thống thoát nước, hạ ting công công của thành phố Vancouver Canada do BĐKH cho thấy các thành phan trong hệ thống tiêu thoát nước déu bị ảnh hưởng với mức độ tổn thương. khác nhau ứng với các kịch bản BĐKH-NBD, Cụ thé, c thành phần trong hệ thống không dip ứng năng lực tải khi lượng mưa gia ting về cường độ như hồ ga, đường ống và cửa xã, BE xuất. được đưa ra là gia tăng kích thước, lip đặt thêm đường ông và các thành phẫn khác trong hệ thống để đảm bao tiêu thoát trong điều kiện BĐKH- NBD. ‘Thu trữ nước mưa để làm giảm lưu lượng tập trung dong chảy, ting lượng thắm và bổ cập nước ngim đã và đang được đề xuất là các giải pháp tổng thể cho nhiều khu đổ th Cụ thể, ở Singapore, ở Mỹ đã có hướng dẫn cho thiết kế các mái nhà để đảm bảo hạn.
chế thi đa tập trang nước cho hg thông tiêu thoát. Các công tình xây dựng phải bit buộc phải có hệ thống trữ nước ở các tỏa nha, Nước trữ này có thể được tái sir dụng tưới cây, ân hoặc cho thắm tự nhiên tr lại môi trường nhờ hệ thống ting lọc (61. Ở các khu đ thị hóa, diện tích xây dụng đến 90%, yêu cầu mái nhà thiết kế Không được quá đốc, nếu mái dốc quá 2% thì phải có bổ tí thêm cây xanh trên nóc nhà để giữ lại một phần nước mưa. Nếu mái dốc quá 5% thì phải có bể chứa nước mưa trên nóc nhà hay hệ thống thu gom nước mưa vio bổ.
Các BE mặt bê tông hỏa cũng được thay thé bằng các bê tông thảm cô nhằm ga tăng khả năng thắm, được áp dung ở Phíp, Singapore và ở Mỹ. Thay thé các hệ thống tiêu thoát ngằm bằng các hệ thống rãnh tiêu hở [7| để gia tăng khả năng trữ điều tiết và thắm. Theo kết quả nghiên cứu của chuyên gia Michael Kiparsky, Giám đốc Viện Wheeler Water tai UC Berkeley, chỉ rà quy môi sir đụng nước ngẫm ở Jakarta là vô cùng lớn và phương én mà gin đây Jakarta đã chọn bài oán đơn giản và ít tốn kém hơn là rời thủ đồ Jakarta đến một vũng đất khác, điều này cho thấy néu không có giải pháp ngay từ bây giờ các đô thị và thành phổ vùng động bằng trong tương lai sẽ không thể tránh khỏi Jakarta bây giờ. Theo nghiên cứu của các chuyên gia nói tên, thủ đồ Jakarta nằm trên vùng đất trăng ở bờ biễn tây bắc có 13 con sông chảy qua.
Vì vậy, nơi đây thường xuyên xây ra lũ lụt, ing ngập do mưa và tình trang này dang tồi tệ hon bối nó thực sự dang dẫn chim xuống. Giải pháp đặt ra là ngăn chặn mọi hoạt động khai thác nước ngằm, lấy nước sinh hoạt từ những nguồn khác như 6 nước mưa, nước sông, hoặc nước máy từ các hỒ chữa nhân ạo tại các đồ thị, Jakarta buộc phải thực hiện điều này trước năm 2050 để tránh sụt lứn nghiêm trọng hơn ước trữ này có thé được ti sử dụng tưới cây. cứu hoa nếu cần hoặc cho thắm tự nhiên Hình 1. 1 Minh họa bé chứa nước và hệ thong gom và điều tiết nước mưa ở các tòa nhà xây dựng tại Singapore cic khu đô thị hóa, điện tích xây dựng đến 90%%, yêu cầu mái nhà thiết kể không được «qué dốc, nếu mái đốc quá 2% thì phải có bổ tr thêm cây xanh trên nóc nhà để giữ lại một phin nước mưa \ tri de qu 5% nhấ 6B cha nước mưa rn óc nhỉ hay hệ thống thu gom nước mưa vào “Các bề mặt bê tông hóa cũng được thay thé bằng các "bê tông thảm cỏ nhằm gia tăng khả năng thắm, được áp dụng ở Pháp, Singapore và ở.
Thay thé các hệ thống tiêu thoát ngằm bằng các hệ thống rãnh tiêu hở để gia tăng Xhỏ năng trở điều iết và thắm “Tóm li. nghiên cứu trê thể giới cho thấy vấn đ ngập ứng vàtiêu thoát nước tại các đô thị cũng đang là những thách thức nghiêm trọng, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày mot diễn biến phức tạp mang tính cực đoan. Các giải pháp nghiên cứu hu trữ nước mưa chống ngập ứng ở các khu đô thị vùng ding bằng đã được ấp dụng tại một số nước trên thé giới và đã có hiệu quả cao. Đây sẽ là giải pháp giảm dong chảy do mua, lũ chủ động hữu hiệu trữ nước mưa và cung cắp nước ngọt cho các khu đô thị ving đồng "bằng và vùng ven biển 1.2 Tổng quan nghiên cứu thoát nước đô thị Việt Nam Trong những năm gin đây cùng với sự phát tiễn chung của cả nước, các đô thị ngày cng phát triển nhưng việc xây dụng hệ thống thoát nước chưa tương xứn bên cạnh đó biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những trận mưa với cường độ lớn làm cho vấn dé thoát nước của các đồ thị cảng khó khăn hơn, Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về van đề ngập lụt của đô thị Việt Nam.