Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Sỹ Tá, thuộc chuyên ngành Quản lý hành chính công (mã số đào tạo: 62 34 82 01) tại Học viện Hành chính Quốc gia, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Chi Mai và GS. Đinh Văn Tiến, hoàn thành năm 2018 tại Hà Nội.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quá trình cải cách nền hành chính quốc gia tại Việt Nam gắn liền với chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011–2020 theo Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011, trong đó cải cách tài chính công là một nội dung trọng tâm. Đối với khu vực sự nghiệp công lập, Chính phủ đã từng bước ban hành các văn bản điều chỉnh cơ chế tài chính như Quyết định 192/2001/QĐ-TTg, Nghị định 10/2002/NĐ-CP, Nghị định 43/2006/NĐ-CP và Nghị định 16/2015/NĐ-CP nhằm trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính.
Hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) giữ vai trò là cơ sở vật chất phục vụ các nhiệm vụ chính trị, đối ngoại của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, đồng thời tận dụng năng lực dư thừa để kinh doanh dịch vụ. Mặc dù đã có chuyển biến sau thời gian thực hiện cơ chế tự chủ, hoạt động quản lý tài chính tại hệ thống này bộc lộ nhiều vướng mắc:
- Tâm lý bao cấp, trông chờ vào ngân sách nhà nước và thói quen chi tiêu chưa triệt để tiết kiệm vẫn tồn tại ở một bộ phận viên chức, người lao động.
- Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ có tăng nhưng tỷ trọng chưa cao; quy định cho phép vay vốn tín dụng, huy động vốn viên chức theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP chưa có cơ chế thực hiện cụ thể nên các nhà khách chưa triển khai.
- Bộ máy quản lý tài chính còn hạn chế về năng lực tham mưu kinh tế; quy định trích lập 40% nguồn thu để cải cách tiền lương gây ràng buộc nguồn lực chi tiêu.
- Đơn vị vẫn phải thực hiện nhiệm vụ chính trị đột xuất do cấp trên giao nhưng không được bố trí kinh phí kịp thời, gây ảnh hưởng đến khả năng tự chủ tài chính.
Trước bối cảnh trên, việc nghiên cứu có hệ thống nhằm xây dựng cơ chế quản lý tài chính phù hợp cho hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN là một đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc các cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương theo hướng bảo đảm tự chủ và tự chịu trách nhiệm.
Để thực hiện mục tiêu này, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và nhà khách thuộc cơ quan QLNN nói riêng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính của hệ thống nhà khách công vụ thuộc các cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương giai đoạn 2004–2015, chỉ rõ các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất phương hướng, mục tiêu và hệ thống giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN đến năm 2025.
Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Đâu là cơ sở lý luận làm căn cứ cho việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN ở Việt Nam?
- Câu hỏi 2: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN trong giai đoạn 2004–2015 diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi 3: Đâu là những giải pháp cơ bản để hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN trong giai đoạn tiếp theo?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống các nhà khách công vụ thuộc các cơ quan QLNN ở Trung ương và địa phương.
- Khách thể nghiên cứu: Toàn bộ các đơn vị nhà khách thuộc cơ quan QLNN (thuộc Văn phòng Chính phủ, các Bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào cơ sở khoa học, nội dung định hình cơ chế quản lý tài chính và các khâu quản lý tài chính (lập dự toán, chấp hành dự toán, hạch toán kế toán, quyết toán, quản lý tài sản, cơ chế tự chủ).
- Phạm vi không gian: Hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN trên phạm vi cả nước.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu và đánh giá thực trạng giai đoạn 2004–2015, định hướng giải pháp với tầm nhìn đến năm 2025.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến cơ chế tài chính của khu vực công theo các nhóm chủ đề chính:
Các nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập nói chung
- Luận án tiến sĩ kinh tế của Phạm Chí Thanh tiếp cận tài chính đơn vị sự nghiệp công qua các mối quan hệ kinh tế giữa đơn vị với Nhà nước, nhà cung cấp và người sử dụng dịch vụ, chỉ ra yêu cầu hạch toán chi phí và định hướng xoá bỏ bao cấp theo kết quả hoạt động.
- Đề tài khoa học của Lưu Thái Bình (2015) đánh giá tác động của Nghị định 43/2006/NĐ-CP trong việc tạo quyền chủ động quản lý chi tiêu và huy động nguồn lực xã hội cho các đơn vị sự nghiệp công.
- Bài viết của Mai Thị Thu và nhóm nghiên cứu (2015) phân tích những bất cập trong cơ chế tài chính đối với dịch vụ sự nghiệp công và đề xuất phương thức phân bổ nguồn lực công.
- Bài viết của Vương Đình Huệ (2012) trên Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh yêu cầu cải cách tài chính khu vực dịch vụ công hướng tới chất lượng, công bằng và hiệu quả.
- Đề tài nghiên cứu của nhóm tác giả do PGS. Trần Văn Giao chủ nhiệm và đề tài của Cục Công sản – Bộ Tài chính (2013) nghiên cứu cơ chế quản lý, khai thác tài sản nhà nước tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp theo các phương thức cho thuê, liên doanh, liên kết.
- Các bài viết học thuật của Yên Thanh (2013), Tấn Lực (2012), Đức Minh (2012), Thúy Hồng (2012), Xuân Vương (2013) phản ánh tình hình triển khai cơ chế tự chủ tài chính tại các địa phương và việc thực hiện Kết luận số 37-TB/TW, Nghị quyết số 40/NQ-CP của Chính phủ.
Các nghiên cứu về cơ chế tự chủ trong các lĩnh vực chuyên ngành
- Lĩnh vực giáo dục đại học: Luận án tiến sĩ của Trần Đức Cân (2012) xây dựng tiêu chí đánh giá mức độ tự chủ tài chính của các trường đại học công lập; đề tài của Nguyễn Kim Dung và Trần Quốc Toản (2010), đề tài cấp Bộ của Trường Đại học Tài chính – Marketing phân tích chính sách xã hội hóa và tự chủ đại học; các công trình quốc tế của Hayden và Thiep (2006, 2007) bàn về quyền tự trị thể chế của giáo dục đại học Việt Nam.
- Lĩnh vực khoa học và công nghệ: Đề tài cấp Bộ của Vụ Tài chính Hành chính – Sự nghiệp (Bộ Tài chính), Đề án chuyển đổi Viện Kỹ thuật Biển (2009) theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP, cùng các nghiên cứu của Lưu Đức Tuyên (2016), Bùi Tiến Dũng (2014), Đoàn Trọng Đức (2014) khảo sát cơ chế khoán chi và những bất cập trong lộ trình tự chủ của các tổ chức khoa học công nghệ.
- Lĩnh vực y tế công lập: Đề án năm 2008 của Bộ Y tế tổng kết thực trạng tài chính y tế, cơ chế viện phí, bảo hiểm y tế và phương thức tự chủ tài chính tại các bệnh viện công lập.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù các nghiên cứu đi trước đã cung cấp nền tảng lý luận phong phú về tự chủ tài chính khu vực công, các công trình này chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực phổ biến như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về cơ chế quản lý tài chính áp dụng riêng cho hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN ở Việt Nam – một mô hình đơn vị sự nghiệp công lập vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị, công vụ phi lợi nhuận, vừa tham gia cung ứng dịch vụ lưu trú, ăn uống trên thị trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và hệ thống khái niệm
Luận án vận dụng lý thuyết về quản lý hành chính công và tài chính công:
- Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL): Là tổ chức do cơ quan nhà nước thành lập nhằm cung cấp dịch vụ sự nghiệp, dịch vụ công ích phục vụ xã hội, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận thuần túy, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.
- Dịch vụ công và hàng hóa công cộng: Phân định 3 loại hình dịch vụ công: (i) Dịch vụ hành chính công do cơ quan nhà nước thực hiện; (ii) Dịch vụ sự nghiệp (y tế, giáo dục, văn hóa, khoa học) có thể ủy thác hoặc xã hội hóa; (iii) Dịch vụ công ích đáp ứng nhu cầu hạ tầng kỹ thuật thiết yếu. Đặc tính hàng hóa công cộng của sản phẩm sự nghiệp gồm tính "không loại trừ" và "không cạnh tranh".
- Nhà khách thuộc cơ quan QLNN: Là đơn vị sự nghiệp công đặc thù, có chức năng tổ chức ăn, nghỉ, đưa đón đại biểu tham dự các hội nghị của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, HĐND, UBND các cấp; tiếp đón khách công vụ và phục vụ khách xã hội khi có công suất phòng trống.
- Cơ chế quản lý tài chính: Tập hợp các nguyên tắc, công cụ, quy chế và phương pháp quản lý việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm bảo đảm mục tiêu chính trị và hiệu quả kinh tế của đơn vị.
- Cơ chế tự chủ tài chính: Thể hiện qua thẩm quyền tự quyết định của đơn vị đối với các nguồn thu, nhiệm vụ chi, phân phối kết quả tài chính gắn liền với trách nhiệm giải trình trước cơ quan cấp trên và pháp luật. Phân loại mức độ tự chủ theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP gồm 4 nhóm:
- Tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư;
- Tự bảo đảm chi thường xuyên;
- Tự bảo đảm một phần chi thường xuyên;
- Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên và chi đầu tư.
- Kinh nghiệm quốc tế: Luận án tổng hợp mô hình quản lý nhà khách công vụ tại một số quốc gia (Nga, Trung Quốc) và tiếp cận xu hướng quản lý tài chính công theo kết quả đầu ra.
| Tiêu chí so sánh |
Khách sạn thương mại thuần túy |
Nhà khách thuộc cơ quan QLNN |
| Mục tiêu hoạt động |
Tối đa hóa lợi nhuận kinh doanh |
Phục vụ nhiệm vụ chính trị, công vụ là ưu tiên; kết hợp kinh doanh bù đắp chi phí |
| Chủ sở hữu và vốn |
Tư nhân hoặc công ty cổ phần |
Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, giao tài sản công |
| Đối tượng phục vụ |
Khách du lịch, khách thương mại trên thị trường |
Đại biểu Quốc hội, đại biểu hội nghị Đảng/Nhà nước, khách công vụ và khách vãng lai |
| Cơ chế tài chính |
Tự chủ hoàn toàn theo Luật Doanh nghiệp |
Áp dụng cơ chế tự chủ ĐVSNCL (Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP) |
| Bộ máy nhân sự |
Hợp đồng lao động linh hoạt theo thị trường |
Viên chức và lao động hợp đồng chịu sự quản lý hành chính nhà nước |
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp khảo sát thực tế và phân tích đánh giá: Thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp về tổ chức bộ máy, cơ chế thu chi, dự toán và quyết toán tại hệ thống nhà khách thuộc Văn phòng Chính phủ, các Bộ và UBND các tỉnh.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, nghị định của Chính phủ để xây dựng cơ sở lý luận và đối chiếu với thực tiễn hoạt động.
- Phương pháp thống kê: Xử lý và tổng hợp chuỗi số liệu tài chính giai đoạn 2004–2015 của hệ thống nhà khách để đánh giá xu hướng thu, chi và khả năng tự cân đối.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Trao đổi, phỏng vấn các nhà quản lý hành chính, cán bộ quản lý tài chính tại Văn phòng Chính phủ, các Bộ và lãnh đạo các nhà khách nhằm kiểm chứng độ tin cậy của các giải pháp đề xuất.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến đổi mới cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập, cơ chế tự chủ trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học công nghệ và công tác quản lý tài sản công. Luận án phân tích những kết quả đạt được của các công trình trước đó, đồng thời làm rõ sự thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống nhà khách cơ quan QLNN, từ đó xác lập tính cấp thiết, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và 3 câu hỏi nghiên cứu của đề tài.
Chương 2: Cơ sở khoa học về cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam
Chương 2 luận giải các vấn đề lý luận về ĐVSNCL và bản chất của nhà khách thuộc cơ quan QLNN. Tác giả phân tích:
- Khái niệm, vai trò, đặc điểm của ĐVSNCL và phân loại đơn vị sự nghiệp theo lĩnh vực, cơ quan quản lý, cấp hành chính, cấp dự toán và cơ cấu nguồn kinh phí.
- Khái niệm và đặc thù của hệ thống nhà khách: Vị trí địa lý đắc địa, tài sản thuộc sở hữu nhà nước, nguồn thu kép (ngân sách nhà nước cấp và kinh doanh dịch vụ), nhân lực hình thành từ cán bộ, công chức, viên chức.
- Cơ chế quản lý tài chính tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo tiến trình pháp lý: Nghị định 10/2002/NĐ-CP (bước đầu khoán chi và khai thác nguồn thu), Nghị định 43/2006/NĐ-CP (mở rộng tự chủ toàn diện về nhiệm vụ, tổ chức, biên chế, tài chính) và Nghị định 16/2015/NĐ-CP (phân loại mức độ tự chủ theo chi thường xuyên và chi đầu tư).
- Tổng hợp bài học kinh nghiệm quốc tế về quản lý nhà khách chính phủ và mô hình quản lý theo kết quả đầu ra trong khu vực công.
Chương 3: Thực trạng về cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động tài chính của hệ thống nhà khách giai đoạn 2004–2015:
- Khái quát quá trình hình thành, chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức của hệ thống nhà khách thuộc Văn phòng Chính phủ (ví dụ: Nhà khách 37 Hùng Vương, Nhà khách Tao Đàn, Dinh Độc Lập), nhà khách các Bộ và nhà khách thuộc UBND các tỉnh, thành phố.
- Tình hình lập, chấp hành dự toán, hạch toán kế toán và quyết toán thu chi tài chính: Đánh giá cơ cấu nguồn thu từ ngân sách cấp cho nhiệm vụ chính trị và nguồn thu từ hoạt động dịch vụ lưu trú, hội nghị.
- Đánh giá mặt tích cực: Bước đầu phát huy quyền tự chủ, ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, tăng cường ý thức tiết kiệm và cải thiện thu nhập cho người lao động.
- Chỉ rõ các hạn chế và nguyên nhân:
- Hạn chế: Nguồn thu dịch vụ chưa ổn định; việc vay vốn đầu tư nâng cấp tài sản chưa thực hiện được; bộ máy kế toán chưa đáp ứng yêu cầu quản trị kinh doanh dịch vụ; việc phân bổ kinh phí phục vụ nhiệm vụ chính trị còn bất cập.
- Nguyên nhân: Khung pháp lý chưa đồng bộ giữa quản lý đơn vị sự nghiệp và quản lý kinh doanh; tư duy bao cấp kéo dài; sự chồng chéo trong chỉ đạo điều hành của cơ quan chủ quản.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam
Chương 4 đề xuất phương hướng, mục tiêu và 9 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách đến năm 2025:
- Hoàn thiện khung pháp luật về cơ chế quản lý tài chính đối với hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN.
- Đổi mới nhận thức của cấp quản lý và cán bộ nhân viên hệ thống nhà khách về vấn đề tự chủ tài chính.
- Đổi mới phương thức quản lý tài chính, tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu.
- Hoàn thiện quy trình xây dựng và nội dung quy chế chi tiêu nội bộ tại các nhà khách thuộc cơ quan QLNN.
- Đa dạng hoá các nguồn tài chính đối với hệ thống nhà khách (khai thác dịch vụ, huy động vốn liên kết).
- Hoàn thiện công tác quản lý tài chính kế toán và quản lý tài sản công tại hệ thống nhà khách.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tài chính và kiểm toán nội bộ.
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy và phát triển nhân sự quản lý tài chính.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và tin học hoá trong quản lý tài chính tại các nhà khách.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính đối với một loại hình ĐVSNCL mang tính đặc thù là hệ thống nhà khách công vụ thuộc cơ quan QLNN.
- Làm rõ bản chất của tự chủ tài chính trong điều kiện vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị theo kế hoạch của Nhà nước, vừa hoạt động cung ứng dịch vụ theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Bổ sung luận cứ khoa học hành chính về sự cần thiết phải phân định ranh giới giữa chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu tài sản nhà nước tại các đơn vị sự nghiệp có thu.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh tổng thể và dữ liệu thực chứng về thực trạng quản lý thu, chi, tài sản và thực hiện quyền tự chủ tài chính tại hệ thống nhà khách thuộc Văn phòng Chính phủ, các Bộ và các địa phương giai đoạn 2004–2015.
- Đề xuất hệ thống 9 nhóm giải pháp đồng bộ, cụ thể, có khả năng áp dụng trực tiếp vào công tác quản lý tài chính của hệ thống nhà khách công vụ tại Việt Nam.
| Nhóm giải pháp |
Nội dung trọng tâm |
| Thể chế & Khung pháp luật |
Ban hành hướng dẫn cơ chế tự chủ tài chính đặc thù cho nhà khách; quy định rõ cơ chế vay vốn, liên kết và sử dụng tài sản công |
| Phương thức quản lý |
Tách bạch giữa quản lý nhà nước và đại diện chủ sở hữu; chuyển sang phương thức Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ gắn với kinh phí |
| Nội bộ đơn vị |
Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ minh bạch; đa dạng hóa dịch vụ; kiện toàn bộ máy kế toán; ứng dụng phần mềm quản lý tài chính |
| Kiểm tra & Giám sát |
Nâng cao hiệu quả kiểm toán nội bộ; tăng cường công tác thanh tra, giám sát từ cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính |
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Dữ liệu khảo sát thực chứng của luận án tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2004–2015, thời điểm Nghị định 16/2015/NĐ-CP mới bắt đầu được ban hành và triển khai, do đó các phân tích về tác động thực tế của Nghị định 16 đối với toàn bộ hệ thống nhà khách cần tiếp tục được theo dõi.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đánh giá tác động của các văn bản pháp lý mới hơn về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đối với hệ thống nhà khách sau năm 2015.
- Nghiên cứu các mô hình hợp tác công tư (PPP), liên doanh, liên kết trong quản lý, khai thác tài sản công tại hệ thống nhà khách công vụ.
- Đánh giá hiệu quả ứng dụng chuyển đổi số và công nghệ thông tin toàn diện trong quản lý doanh thu, chi phí và định mức tiêu hao tại các nhà khách.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị đối với:
- Cơ quan quản lý nhà nước: Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ và UBND các tỉnh, thành phố có thêm cơ sở khoa học để rà soát, sửa đổi quy chế tài chính, phân bổ dự toán và giao quyền tự chủ cho các nhà khách trực thuộc.
- Ban giám đốc và bộ phận tài vụ nhà khách: Áp dụng quy trình xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, quản lý tài sản công, phân bổ quỹ và định mức chi tiêu hợp lý nhằm tăng thu nhập cho cán bộ, nhân viên.
- Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Cung cấp tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý hành chính công, Quản trị công, Tài chính công tại Học viện Hành chính Quốc gia và các trường đại học khối kinh tế - luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Nhà khách thuộc cơ quan quản lý nhà nước có điểm gì khác biệt so với các đơn vị sự nghiệp công lập khác?
Hệ thống nhà khách vừa là cơ sở phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối ngoại, nơi ăn, nghỉ, hội họp của đại biểu Quốc hội, Trung ương Đảng, Chính phủ, HĐND và UBND các cấp, vừa tham gia cung ứng dịch vụ lưu trú, ăn uống trên thị trường. Do đó, đơn vị phải giải quyết đồng thời mục tiêu bảo đảm yêu cầu công vụ phi lợi nhuận và mục tiêu hạch toán kinh tế bù đắp chi phí.
2. Giai đoạn 2004–2015, cơ chế quản lý tài chính nhà khách bộc lộ những điểm nghẽn chính nào?
Những điểm nghẽn chính gồm: tâm lý ỷ lại vào ngân sách bao cấp; nguồn thu dịch vụ chưa cao; chưa có cơ chế rõ ràng để vay vốn tín dụng hay huy động vốn theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP; quy định trích 40% nguồn thu cho cải cách tiền lương gây bó buộc chi tiêu; tình trạng cấp trên giao nhiệm vụ chính trị đột xuất nhưng chưa bố trí đủ kinh phí; năng lực bộ máy quản lý tài chính còn hạn chế.
3. Các văn bản pháp lý nền tảng nào quy định cơ chế tự chủ tài chính được phân tích trong luận án?
Luận án phân tích tiến trình đổi mới thể chế quản lý tài chính công qua các văn bản: Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg, Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP (kèm Thông tư số 71/2006/TT-BTC) và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ.
4. Luận án đề xuất những giải pháp cốt lõi nào để đổi mới cơ chế quản lý tài chính hệ thống nhà khách?
Luận án đề xuất 9 nhóm giải pháp: hoàn thiện khung pháp luật; đổi mới nhận thức về tự chủ tài chính; tách bạch quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu; hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ; đa dạng hóa nguồn tài chính; hoàn thiện kế toán và quản lý tài sản công; tăng cường thanh tra, kiểm toán nội bộ; hoàn thiện tổ chức bộ máy, nhân sự; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Sỹ Tá đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính đối với ĐVSNCL và làm rõ tính chất đặc thù của hệ thống nhà khách thuộc cơ quan QLNN ở Việt Nam. Trên cơ sở phân tích thực trạng giai đoạn 2004–2015, công trình đã chỉ ra các thành tựu bước đầu cũng như những rào cản về cơ chế, nhận thức và tổ chức thực hiện tự chủ tài chính. Hệ thống 9 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm đổi mới phương thức quản lý tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công và chất lượng dịch vụ của hệ thống nhà khách công vụ đến năm 2025.