Chương 1: Trình bày một số vấn đề chung căn bản về cơ chế giải quyết tranh chấp trong TPQT Việt Nam: xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm của cơ chế này; trình bay cơ sở pháp lý quốc tế, quốc gia về GQTC trong TPQT và các tiêu chí xây dựng cơ chế GQTC trong TPQT Việt Nam phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và phát triển bền vững. - Chương 2: Phân tích thực trạng quy định pháp luật và các van dé thực tiễn pháp lý về các phương thức, trình tự thủ tục GQTC trong TPQT Việt Nam hiện nay và các chủ thể tham gia thực thi cơ chế này (trong đó tập trung chủ yếu vào các yếu to trọng tâm có tính đặc thù của lĩnh vực TPOT, thé hiện nỗi bật và rõ nét nhất trong phương thức GOTC bằng tố tung tòa án và thực tiên lĩnh vực tranh chấp thương mại có YTNN); luận giải các nội dung đánh giá về thành tựu, ưu điểm và nhược điểm, hạn chế của các yếu tố cấu thành cơ chế GQTC. - Chương 3: Trình bày quan điểm của tác giả về yêu cầu chủ đạo, phương hướng và các giải pháp cụ thể tiếp tục hoản thiện cơ chế GỌTC trong TPQT Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. - Kết luận chung - Danh mục các công trình công bố kết quả nghiên cứu của tác giả trực tiếp liên quan đến đề tài Luận án.
- Danh mục tải liệu tham khảo. MOT SO VAN ĐÈ CHUNG VE CƠ CHE GIAI QUYET TRANH CHAP TRONG TU PHAP QUOC TE VIET NAM 1. KHAI NIEM VA CAC YEU TO CAU THANH CO CHE GIAI QUYET TRANH CHAP TRONG TU PHAP QUOC TE VIET NAM 1. Khai niệm “cơ chế giải quyết tranh chấp trong TPQT Việt Nam” 1.
Tư pháp quốc té Ở các nước như Hoa Ky, Anh, Singapore, Australia, Canada và một số nước khác, Tư pháp quốc tế (TPQT) với nghĩa là một bộ phận pháp luật hoặc một ngành luật được thé hiện trong nội hàm thuật ngữ Luật xung đột (Conflict of laws)[28]. Thuật ngữ “Tư pháp quốc tế” được sử dụng thống nhất ở Việt Nam tương ứng với nghĩa của từ “Luật quốc tế tư“ (Private International Law- tiếng Anh, Droit International Privé — tiếng Pháp, Mexnynapoxnoe acrnoe [paso - tiếng Nga) được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Dù với tên gọi Luật quốc tế tư hay Luật xung đột, rất ít hệ thống TPQT giới hạn phạm vi điều chỉnh của ngành luật này chỉ ở vấn đề xung đột pháp luật mà nhìn chung đều có ba nội dung trụ cột, đó là: (1) xác định thâm quyền xét xử của tòa án quốc gia đối với các vụ việc dân sự có YTNN; (2) xác định luật áp dụng đối với các quan hệ dân sự có YTNN; và (3) công nhận và thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoai [41, tr. Các vấn dé này thê hiện trong các quan hệ pháp luật tư như quan hệ sở hữu tài sản, quan hệ hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ phá sản.
Trong khoa học pháp ly và hệ thống pháp luật Việt Nam, Tu pháp quốc tế là một ngành luật độc lập bao gồm các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sụ-kinh tế-thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động va to tụng dân sự có yếu tố nước ngoài [56, tr. Các quy phạm của ngành luật TPQT được chứa đựng trong cả văn bản pháp luật quốc gia và các hình thức pháp luật quốc tế (điều ước và tập quán quốc tế) [58]. Phạm vi điều chỉnh của TPQT Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới (CH Pháp, LB Nga, Ba Lan và các nước Đông Âu) là các quan hệ dân sự theo phạm vi rộng có YTNN, gồm các vấn dé liên quan đến xung đột thâm quyên, xung đột pháp luật; quốc tịch, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ TPQT (đặc biệt là 15 người nước ngoài); các quan hệ về quyền sở hữu, thừa kế; hợp đồng dân sự, thương mại, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thanh toán quốc tế; quyên tác giả, quyền sở hữu công nghiệp; quan hệ hôn nhân, gia đình, lao động có YTNN; tố tụng dân sự quốc tế, trọng tài TMQT [36, 56]. Các quan điểm về TPQT như nêu trên là khác biệt so với nhiều nước khác trên thế giới (đặc biệt là các nước theo mô hình Luật xung đột, như Anh, Mỹ, Duc, Italia) chỉ quan niệm TPQT theo phạm vi hẹp: xung đột thâm quyền vả/hoặc xung đột pháp luật.
Mặc dù có những điểm chung như nêu trên và ngày càng có nhiều tổ chức quốc tế, nhiều điều ước quốc tế đa phương về TPQT được thiết lập trong xu thế hợp tác giữa các quốc gia, lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, mỗi quốc gia đều có hệ thống TPQT của riêng mình, với tính chất là một bộ phận của pháp luật quốc gia, và do đó không có hệ thống TPQT chung cho tất cả các quốc gia [28]. Đây là điểm đặc thù của lĩnh vực TPQT so với lĩnh vực công pháp quốc tế (International Law), thương mại quốc tế công (International Trade Law) và cũng là cơ sở quan trọng cần lưu ý khi xây dựng mô hình lý luận, pháp lý về cơ chế GQTC trong TPQT Việt Nam. Quan hệ pháp luật thuộc phạm vi điều chính của TPQT Việt Nam a) Quan hệ dân sự có YTNN Theo nghĩa chung nhất, quan hệ dân sự là quan hệ xã hội được xác lập trên nguyên tắc bình đăng, tự nguyện, tự thoả thuận va tự chịu trách nhiệm giữa các chu thé. Theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam (BLDS), quan hệ dan sự là tên gọi chung dé chi các quan hệ dân sự, hôn nhân va gia đình, kinh doanh, thương mai, lao động [90].
Đây là quan hệ phát sinh giữa các chủ thể là cá nhân, pháp nhân va trong một số trường hợp đặc biệt có thé là nha nước — thuộc đối tượng điều chỉnh của các ngành luật tư. Các quan hệ này được thiết lập giữa cá nhân, pháp nhân của các nước khác nhau hoặc giữa các cá nhân, pháp nhân của một nước nhưng có liên quan đến YTNN thì được gọi là quan hệ dân sự có YTNN. Mặc dù các quan hệ dân sự có YTNN, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đã phát sinh từ rất lâu và được pháp luật Việt Nam điều chỉnh nhưng khái niệm ”quan hệ dan sự có YTNN” thì mới được chính thức quy định tại một điều luật trong BLDS năm 1995 (Điều 826 Phan thứ bảy). Tiếp đó, BLDS năm 2005 (Điều 758) quy định: ”Quan hệ dân sự có YTNN là quan hệ dân sự có it nhất một trong 16 các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Một số văn bản pháp luật khác cũng có quy định tương đồng về khái niệm nay, như Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 (Điều 8 Khoản 4), Luật Thuong mại năm 2005, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Khoản 4 Điều 3), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bỗ sung năm 2011 - sau đây viết tat là Bộ luật TTDS (Điều 1). Các quy định nêu trên là cơ sở dé khang định, “quan hệ dân sự theo phạm vi rộng” hay “quan hệ mang bản chất dân sự” là đối tượng điều chỉnh của TPQT. b) Tranh chap trong lĩnh vực TPOT Thuật ngữ “tranh chấp” - tiếng Anh là “dispute”, tiếng Pháp là “litige” - thường được dùng dé chi “tình trạng ton tại giữa hai (hay nhiều) cá nhân, được tạo thành bởi một số dấu hiệu của sự phản đối, đối lập. Theo định nghĩa của Toà án Quốc tế (Permanent Court of International Justice) trong phán quyết năm 1924 về vụ tranh chấp Mavrommatis, “anh chấp (dispute) là sự bất đồng về mặt pháp lý hay thực tế, sự xung đột về quan điểm pháp ly hoặc mâu thuần, lợi ích giữa hai người trở lên” [153, tr.
Ở Việt Nam cho đến nay, chưa có van bản pháp lý Aloo nào đưa ra khái niệm cụ thé về “tranh chap“. Theo Từ điển Tiếng Việt [138], tranh chấp được giải thích là sự đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên. Một số tác giả nghiên cứu khang định: Tranh chấp là sự bat đông về quyên lợi, lợi ích, quan điểm mà trong đó yêu cau hay doi hỏi của một bên bị bên kia từ chói hay khiếu kiện lại 107). * Tranh chấp dân sự có YTNN (the civil dispute containing foreign elements) Tranh chap dân sự thường phat sinh từ các quan hệ dân sự trong lĩnh vực hợp đồng, tài sản và quan hệ gia đình.
Tranh chấp dân sự có YTNN là những xung đột quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thé của quan hệ dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình có YTNN. Ở Việt Nam, theo quy định của Bộ luật TTDS (Điều 25, 27, 29, 31), có khoảng 40 loại tranh chấp cụ thê trong quan hệ tranh chấp dân sự được xác định theo phạm vi rộng. Trong TPQT các nước, do đặc điểm của vụ việc hoặc các bên có liên hệ với nhiêu nước khác nhau mà yêu tô “nước ngoài” (foreign) trong tranh chap dân sự 17 cũng có thé liên hệ với yếu tổ “quốc tế” (international), khi các bên hoặc các vấn dé liên quan có liên hệ với hơn một nước[145, p. Theo pháp luật Việt Nam (khoản 2 Điều 405 Bộ luật TTDS), “vụ việc dan sự có YTNN là vụ việc dan sự co it nhất một trong các bên là người nước ngoài, người Việt Nam định cu ở nước ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các đương sự là công dân, cơ quan, tô chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Từ quy định này, vụ việc dân sự có YTNN có một trong ba dấu hiệu (đặc điểm) sau: Dấu hiệu thứ nhất - về mặt chủ thê: Quan hệ dân sự có ít nhất một trong các đương sự hoặc các bên đương sự đều là người nước ngoài (cá nhân và pháp nhân nước ngoài), người Việt Nam định cư ở nước ngoài.