chương ITO, biến nó thành Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại (GATT 1947). Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 11/1/1948 [9]. Mặc dù ITO không được thành lập, và GATT 1947 chỉ mang tính tạm thời nhưng đây vẫn là công cụ hữu hiệu duy nhất mang tính đa phương điều tiết thương mại thế giới kể từ năm 1948 cho đến khi WTO được thành lập vào năm 1995. Trong khuôn khổ GATT 1947 rất nhiều vòng đàm phán về tình hình thương mại thế giới đã được tổ chức, từ năm 1947 tại Geneva (Thuỵ sỹ), đến Annecy (Pháp) năm 1949, Torquay (Vương quốc Anh) năm 1951, Tokyo (Nhật Bản) năm 1979 và đến Marrakesh (Marốc) năm 1994 [36].
Trong suốt khoảng thời gian này, Hiệp định GATT 1947 đã được áp dụng đúng như dự định là một hiệp định điều chỉnh các luật chơi trong thương mại hàng hoá quốc tế. Đến những năm 1980, việc cải cách toàn diện hệ thống thương mại toàn cầu đã trở nên cấp thiết nên GATT 1947 đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩn mực và luật chơi điều tiết các hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, thương mại hàng nông sản, hàng dệt may và về cơ chế giải quyết tranh chấp. Với phạm vi của hệ thống thương mại đa phương được mở rộng, nên GATT 1947 đã tỏ ra không còn thích hợp khi chỉ tập trung vào lĩnh vực thương mại hàng hóa. Do đó, WTO đã được thành lập trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại họp tại Marrakesh (Maroc) ngày 15/4/1994 và bắt đầu đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995.
Về cơ bản, WTO là sự kế thừa và phát 16 triển những tinh hoa của GATT (1947), góp phần tiếp tục thể chế hóa và thiết lập trật tự mới trong hệ thống thương mại đa phương của thế giới. Mục đích của WTO Về mục đích của WTO, Peter Van den Bossche, một chuyên gia kinh tế học đã rút ra từ hai đoạn đầu tiên của Lời nói đầu trong Hiệp định thành lập WTO như sau : - Nâng cao mức sống; - Tạo công ăn việc làm đầy đủ; - Tăng thu nhập và nhu cầu thực tế; - Mở rộng sản xuất và thương mại trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ Để duy trì được những mục tiêu đó, WTO đã xây dựng một hệ thống các nguyên tắc làm nền tảng cho các hoạt động ổn định, lâu dài và tạo căn cứ để buộc các quốc gia thành viên phải tuân theo. Dựa trên các nguyên tắc đã được hình thành, các quốc gia sẽ điều chỉnh, sửa đổi các chính sách, luật pháp và quy định để phù hợp với các nguyên tắc và các cam kết của WTO. Các nguyên tắc đó gồm có nguyên tắc nước được ưu đãi nhất (MFN), đối xử quốc gia (NT), có thể dự đoán, thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán và giành ưu đãi đối với các nước đang phát triển.
Cùng với các nguyên tắc là một loạt các hiệp định như Hiệp định chung về thương mại và thuế quan, Hiệp định trợ cấp, Hiệp định chống bán phá giá, Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật và vệ sinh, kiểm dịch động thực vật, Hiệp định về mua sắm của chính phủ… Tổng số các Hiệp định này được lưu giữ trong 500 trang cùng với khoảng 23.000 trang các cam kết của các nước thành viên. Đây là một khối lượng đồ sộ các quy định pháp lý và cam kết để bảo vệ cho một nền thương mại tự do, minh bạch và công bằng của toàn thế giới. Tranh chấp thƣơng mại quốc tế 1. Khái niệm tranh chấp quốc tế 17 Trong quan hệ quốc tế, dù đó là quan hệ của công pháp hay tư pháp quốc tế đều khó tránh khỏi sự phát sinh tranh chấp.
Tranh chấp quốc tế và giải quyết tranh tranh chấp quốc tế đã hình thành và phát triển khá lâu như một chuyên ngành của cả pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Trong pháp luật quốc tế, khi nói đến tranh chấp quốc tế người ta thường nghĩ ngay đến sự bất đồng giữa các quốc gia về biên giới lãnh thổ và các vấn đề chính trị trong quan hệ quốc tế. Trước chiến tranh thế giới lần thứ II, trong luật quốc tế thịnh hành các biện pháp dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp quốc tế. Cùng với việc thành lập Liên Hợp Quốc, nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc và trong Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên Hợp quốc năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.
Mặc dù được nghiên cứu từ lâu, nhưng cho đến nay, trong các điều kiện quốc tế vẫn chưa có định nghĩa chính thức về tranh chấp. Nhiều luật gia, giảng viên luật khi đề cập đến tranh chấp thường liên hệ tới định nghĩa của Toà án thường trực đưa ra trong phán quyết về vụ Mavrrommatí Palestine Consessions: Một vụ tranh chấp có thể được xem như một sự bất đồng đối với một quy phạm pháp luật hay một sự việc, một cuộc tranh chấp về quan điểm luật pháp hay lợi ích giữa hai người [31,tr. Theo quan điểm cá nhân tôi tranh chấp quốc tế là sự bất đồng của các chủ thể của pháp luật quốc tế trong quan hệ quốc tế về quyền và lợi ích bị xâm hại cần phải được giải quyết để thúc đẩy sự hợp tác, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế nhằm mục đích giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới. Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế Các vấn đề của luật pháp quốc tế áp dụng cho tranh chấp quốc tế nói chung cũng áp dụng cho tranh chấp thương mại quốc tế.
Tranh chấp thương mại quốc tế khác với tranh chấp quốc tế ở chỗ đối tượng tranh chấp là các vấn 18 đề phát sinh từ hoạt động thương mại quốc tế, từ chính sách thương mại của các quốc gia đi ngược lại với những cam kết quốc tế. Để làm rõ được khái niệm về tranh chấp thương mại quốc tế, trước hết cần xem xét cách hiểu về khái niệm thương mại quốc tế. Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế thường gắn với khái niệm "thương mại quốc tế". Trong luật mẫu UNCITRAL về Trọng tài thương mại, Ủy ban Liên Hợp Quốc về Thương mại định nghĩa: "Các mối quan hệ mang tính chất thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn ở các giao dịch sau đây: Mọi giao dịch thương mại liên quan đến việc cung cấp hay trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thoả thuận về phân phối; đại diện thương mại; hóa đơn chứng từ; bản - cho thuê; xây dựng nhà máy; dịch vụ tư vấn; đề án thiết kế tổng hợp; giấy phép; đầu tư; cấp chi phí; giao dịch ngân hàng; bảo hiểm; các thoả thuận về khai thác hay chuyển nhượng; hợp tác giữa các xí nghiệp và các hình thức về hợp tác công nghiệp hay thương mại; vận chuyển hành khách hay hàng hóa bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ‖.
Từ định nghĩa này chúng ta thấy, những tranh chấp thương mại theo luật mẫu bao gồm các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại hàng hoá, dịch vụ và đầu tư. Trong Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới, khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa rộng hơn. Điều 2 của Hiệp định WTO quy định. Theo đó, hoạt động thương mại sẽ bao gồm thương mại hàng hoá, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, thương mại dịch vụ, và các khía cạnh liên quan đến luật mẫu UNCITRIAL ở chỗ quy định cả các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, nhưng lại hẹp hơn ở chỗ, WTO chỉ liên hệ tới các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại.
Theo Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại Việt Nam, tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài là ―tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại mà một bên hoặc các bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ có 19 tranh chấp phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến tranh chấp đó ở nước ngoài”. Tranh chấp thương mại quốc tế được xác định khi có một trong các yếu tố sau: Thứ nhất, có một trong các chủ thể tham gia quan hệ tranh chấp là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Thứ hai, căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự, thương mại có tranh chấp là phát luật nước ngoài, phát sinh ở nước ngoài; Thứ ba, đối tượng của Vụ tranh chấp dân sự, thương mại là tài sản ở nước ngoài. Đối với Việt Nam, việc xác định một tài sản trong vụ tranh chấp phải tuân theo các quy định của Bộ luật dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan của Việt Nam cũng như điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Như vậy, khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế cần được hiểu: Thứ nhất, tranh chấp giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế liên chính phủ liên quan đến hoạt động thương mại. Đối tượng tranh chấp loại này là nghĩa vụ và quyền lợi quy định tại Hiệp định thương mại mà các bên ký kết tham gia. Việc giải quyết các tranh chấp loại này cũng tuân thủ theo cơ chế giải quyết tranh chấp của các Hiệp định có liên quan. Thứ hai, tranh chấp giữa các quốc gia với pháp nhân, thể nhân nước ngoài.
Đây là tranh chấp giữa một bên là chủ thể của luật quốc tế với một bên là chủ thể của luật quốc gia. Ví dụ, trong các Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, các quốc gia thường thoả thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài quốc tế hay Trung tâm quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư (ICSID). Thứ ba, tranh chấp giữa các pháp nhân, thể nhân liên quan đến việc thực hiện các hợp đồng kinh tế, hợp đồng thương mại quốc tế. Loại tranh chấp này thường được giải quyết theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng, 20 thường là tại các cơ quan giải quyết tranh chấp của một quốc gia hoặc cơ quan trọng tài quốc tế.