CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LY LUẬN CUA VIỆC XÂY DUNG VA HOÀN THIEN CCGQTCKT CUA CÁC DNCVĐTNN TAI VIỆT NAM. NHUNG VAN ĐỀ CHUNG VỀ DNCVĐTNN TAI VIỆT NAM. Khái niệm DNCVDTNN theo quy định của pháp luật Việt Nam. -DNCVDTNN là gi? DNCVDTNN (cách gọi rút ngắn của cum từ “doanh nghiệp có vốn dau tu trực tiếp của nước ngoài”) là cách gọi thường được dùng để chỉ một loại hình doanh nghiệp, được thành lập tại Nước nhận đầu tư.
do một hav nhiều nhà đầu tư nước ngoài (thuộc Nước đầu tư) đầu tư toàn bộ hay một phần vốn để hoạt động kinh doanh theo quy: định của nước sở tai. Day là một hình thức mới của sự phân công lao động quốc tế và là kết qua của sự phát triển theo chiều sâu của các quan hệ kinh tế quốc tế. DNCVDTNN, theo luật pháp của tất cả các nước, là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu của các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một nước sở tại. Vì khái niệm về "đầu tư trực tiếp nước ngoài” (tiếng Anh là Foreign Direct Investment- viết tắt là FDL) là một khái niềm đã được làm rõ và thừa nhận nên chúng tôi khong di sâu phan tịch những van đẻ có ý nghĩa lý luận và thực tiền của khái niệm này.
Về tén got loại hình DNCVDTNN, cũng chưa có sự thống nhất ở một số nước. theo LĐTNN ở Liên xô cũ và các nước thuộc khối Đông Âu thì thường sử dụng thuật ngữ ” xí nghiệp". Tại một số nước Đông Nam A như Indonesia, Philipin cũng gq gọi là "xí nghiệp có vốn dau tư nước ngoài" {16. Chúng tôi nhận thấy, tuy cách gọi có khác nhau nhưng về nội dung thì hầu như giống nhau.
Về hình thức đầu tư: Tại các nước Nhận đầu tư. DNCVDTNN thường được thành lập theo hai hình thức truyền thống: Miột là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại nước sở tại dé nắm quyền quản lý điều hành toàn bộ doanh nghiệp theo quy định của nước sở tại. gọi là OM100%VNN. Hai là doanh nghiệp có một phần vốn góp của nước ngoài và phần còn lại của một hay nhiều doanh nghiệp của Nước nhận dau tư trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
các bẻn cùng tham gia quản lý và điều hành doanh nghiệp mới thành lập, theo nguyên tac: chia lợi nhuận và rủi ro theo ty lệ vốn góp. được gọi là DNLD. Cả hai loại hình doanh nghiệp trên đều có chung một số đặc điểm như: Là một thực thể pháp luật độc lập với chính các công ty mẹ góp vốn thành lập ra chúng (do đó hình thức đầu tư này đã loại trừ hình thức đầu tư khong thành lập doanh nghiệp (tức là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp dong) và đều có vốn đầu tư từ nước ngoài (một phan hay toàn bộ) do đó thường được gọi một danh từ chung là DNCVDTNN (vì có vốn đầu tư của Nước đầu tư từ bên ngoài vào). So với hình thức DN1I00%VNN, hình thức DNLD được nhiều nước (ví dụ như các nước ASEAN) áp dụng bởi vì nó có những mặt thuận lợi cho cả Nước đầu tư và Nước nhàn đầu tư.
Đối với các Nước nhận đầu tư vì bàn thân họ là các nước đang phát triển nẻn ngoài thiếu vốn, họ còn thiểu ca công nghệ, do đó DNLD có vị trí quan trọng. bởi vì, không những chi đầu tư vốn mà còn đầu tư công nghệ và trí thức Kinh doanh. nén dé thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp hiện đại và phát triển kinh tế {13. Ngoài ra, sau khi kết thúc thời han liên doanh thì toàn bộ cơ Sở vật chất của doanh nghiệp sẽ được chuyển giao không điều kiện cho bên nước chủ nhà (ví dụ như ở Việt Nam, hầu hết các hợp đỏng liên doanh đều có điều khoản này).
Hình thức DNLD còn thể hiện quá trình liền Kết quốc tế theo chiều sâu và phản ánh một thực tế quan trọng của ky nguyên hợp tác và phát triển của nền kinh tế thế giới. So sánh với cách gọi của các nước Khác có nhận xét là nhìn chung tên gọi “xí nghiệp liên doanh” thường được sử dụng trong các văn ban LDTNN của các nước trong hệ thong pháp luật xã hội chủ nghĩa như Hung ga ri. Ba Lan, Tiệp khắc (cũ), Ru ma ni. Trung quốc và Liên xô (cũ).
Còn các nước khác thì thường su dụng tên gọi “DNLD”, "liên doanh” hoặc pho biến là “công ty liên doanh”. Để thống nhất cách gọi. luận án này sé sử dụng thuật ngữ “ DNLD”. _ Sau khi được thành lập, DNCVĐTNN mang quốc tịch và hoạt động theo quy định của pháp luật của nước Nhận đầu tư.
Day cũng chính là điểm giống nhau của tất cả các Nước nhận đầu tư. Trên thực tế, để phân biệt một DNCVĐTNN với một doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước. thường có những quan niệm khác nhau như: - Căn cứ vào quốc tịch của các chủ thể: Theo quan niệm này thì phải có chủ thể mang quốc tịch nước ngoài (Nước đầu tư) tham gia thành lập doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó được coi là DNCVDTNN. Có nghĩa là quan niệm này chi chú ý đến tính chất quốc tịch của các chủ thể của DNCVĐTNN.
Quan niệm này coi DNCVĐTNN là một công ty được hình thành bởi sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài theo các hình thức truyền thống: thành lập công ty giữa các nhà đầu tư của Nước đầu tư và bên Nước nhận đầu tư, hoặc công ty hoàn toàn bang vốn của các nhà đầu tư của nước Nhân đầu tư. Quan niệm này không chú trọng đến số lượng tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào DNCVDTNN và thường là không hạn chế số lượng. quan niệm này không có ý nghĩa đối với những quốc gia có áp dụng sọng song hai đạo luật được áp dụng độc lập để điều chỉnh các hoạt động kinh doanh cửa các nhà đầu tư bản xứ và hoạt động dau tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Ví dụ như ở Việt Nam.
nếu nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp không theo quy định của LDTNN, thì doanh nghiệp được thành lập không được coi là DNCVĐTNN mặc dù có chủ thể mang quốc tịch nước ngoài tham gia. Đó là những trường hợp nhà đầu tư nước ngoài-với tư cách là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. đầu tư vào Việt Nam theo quy dinh của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (LKEKĐTTN) ban hành nam 1991. - Can cứ vào nguồn vốn từ nước ngoài gop vào doanh nghiệp: Quan niệm nay chỉ chú ý đến vốn góp vào doanh nghiệp.
Có nghĩa là DNCVDTNN nhất thiết phải là doanh nghiệp có sự góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài theo hai hình thức truyền thống như néu ở trên. Nhưng quan niệm này không quy định cụ thể về tỷ lệ phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong DNLD là bao nhiều thì mới được coi là DNCVĐTNN. Trong thực tiễn việc quy định cụ thể về tỷ lệ vốn góp của bên Nước ngoài vào DNLD phụ thuộc vào từng nước. Ví dụ ở Việt Nam.quy định tỷ lệ góp vốn của bên Nước ngoài không được thấp hơn 30% vốn pháp định của DNLD.
Trong trường hop góp ít hơn thì phải có sự chuẩn y của Chính phủ. nhưng không được dưới 20%{11. Điều đó có nghĩa là theo quy định của Việt Nam. nếu nhà đầu tư nước ngoài góp vốn thấp hơn quy định của pháp luật Nước nhận đầu tư thì không z _ 2 -2 an 1>: 2 .-k S ie TL ⁄ x được phép thành lap.
Do đó, điểm cốt lõi của quan niệm mày là ch cần có sự góp von § E4 TV tone ‘i | của nhà dau tư nước ngoài thì doanh nghiệp đó là DNCVDTNN, mà không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn là bao nhiêu. Trong thực tế thì cũng không phải lúc nào có sự góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài thì mới coi là DNCVDTNN. Ví du, như đã dé cập ở trên, trong hoàn cảnh của Việt Nam, khi chúng ta áp dụng các chính sách khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật về để góp phần vào phát triển đất nước, nếu họ lựa chon đầu tư theo quy định của LKKĐTTN thì doanh nghiệp mà có sự góp vốn của họ, không có tên gọi là DNCVDTNN nữa. - Quan niệm thứ 3 cho rằng.
ngoài yếu tố nước ngoài của chủ thể và vốn góp. cần phải chú ý đến khía cạnh pháp lý của DNCVDTNN cụ thể theo 2 căn cứ: thứ nhất. cơ sở pháp lý dé thành lap doanh nghiệp phải trên cơ sở một đạo luật riêng biệt điều chính hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài do Nước nhận đầu tư ban hành. quan niệm này loại bo mọi sự đầu tư của các chủ thé mang quốc tịch nước ngoài nhưng không thành lập pháp nhân (ví dụ, hình thức đầu tư trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh).
Do đó quan niệm này tương đối đồng nhất với quan niệm chỉ chú ý về mặt cơ cấu tổ chức của DNCVDTNN. Những người theo quan niệm này coi DNCVDTNN là một thực thể pháp luật thống nhất. hoạt động dưới sự điều chính của pháp luật nước sở tại. Đứng về mặt pháp luật thực định.
chúng tôi thấy rằng quan niệm nay cũng có ý nghĩa đối với những Nước nhận đầu tu dang tồn tại song song hai văn bản pháp luật: văn bản pháp luật về đầu tư nước ngoài và văn bản pháp luật áp dụng doi với đầu tu trong nước. Ví dụ như ở Việt Nam, hiện nay việc thành lập và hoạt động của các DNCVDTNN chịu sự điều chính của LDTNN tại Việt Nam. Con việc thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác (như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân) thì theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 1999, các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước thì thành lap theo Luật doanh nghiệp Nhà nước năm 1995. quan niệm này sẽ không áp dụng doi với những nước mà có chung một van bản luật điều chỉnh cả DNCVDTNN và doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước.
theo chúng tôi. đối với những nước đã ban hành LDTNN thì đặc điểm pháp lý để hình thành DNCVDTNN cũng rất quan trong. Bởi vì, qua phân tích việc đầu tư góp vốn của chủ gia của chủ thẻ mang thẻ là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tuy có sự tham co) PHO} VG DOCMãiwiØAsNO| IRUONG ĐẠI H quốc tịch nước ngoài, vốn góp có nguồn gốc từ nước ngoài, nhưng doanh nghiệp đó không gọi là DNCVDTNN vì cơ sở pháp lý để thành lập nó không phải là Luật đầu tư nước ngoài mà là LKKĐTTN.