Tổng quan luận án

Đề tài "Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Phan Thị Hương Thủy thực hiện, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (Mã số: 5.05.15), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Thị Mơ (Hướng dẫn chính) và PGS. Nguyễn Như Phát (Hướng dẫn phụ). Luận án được hoàn thành năm 2002 tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (LĐTNN) được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1987, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4/2001) khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển lâu dài và bình đẳng. Sau 15 năm thực hiện LĐTNN, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNCVĐTNN) đã tạo ra 34% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, khoảng 23% kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu khí) và đóng góp trên 12% GDP cả nước.

Tuy nhiên, từ năm 1997, nhịp độ tăng trưởng FDI có xu hướng suy giảm; nhiều doanh nghiệp liên doanh (DNLD) gặp khó khăn, tỷ lệ đổ vỡ hoặc giải thể trước thời hạn tăng cao. Một trong những nguyên nhân căn bản xuất phát từ những hạn chế của môi trường pháp lý, trong đó cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế (CCGQTCKT) còn nhiều bất cập, thiếu tính đồng bộ và chưa đạt hiệu quả cao. Số lượng các tranh chấp kinh tế (TCKT) có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng và phức tạp, trong khi các quy định pháp luật điều chỉnh còn thiếu rõ ràng, dẫn đến tâm lý e ngại của các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, việc nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện CCGQTCKT của DNCVĐTNN là yêu cầu cấp thiết nhằm củng cố môi trường đầu tư và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, hoàn thiện CCGQTCKT của DNCVĐTNN tại Việt Nam, từ đó đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp cụ thể nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, nâng cao hiệu quả thu hút FDI.

Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích làm rõ hệ thống khái niệm: DNCVĐTNN, TCKT của DNCVĐTNN, khái niệm "cơ chế" và CCGQTCKT của DNCVĐTNN tại Việt Nam.
  2. Trình bày tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về tính tất yếu khách quan của việc xây dựng và hoàn thiện CCGQTCKT của DNCVĐTNN.
  3. Xác định các nội dung cơ bản cấu thành CCGQTCKT của DNCVĐTNN tại Việt Nam.
  4. Đánh giá khách quan thực trạng TCKT và thực trạng vận hành của CCGQTCKT của DNCVĐTNN trong giai đoạn từ 1987 đến năm 2000.
  5. Đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp cụ thể nhằm xây dựng và hoàn thiện CCGQTCKT của DNCVĐTNN trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của LĐTNN tại Việt Nam (từ văn bản ban hành năm 1987, sửa đổi năm 1990, 1992, 1996 đến năm 2000) cùng các văn bản pháp luật liên quan về doanh nghiệp, hợp đồng, giải quyết tranh chấp; thực tiễn các vụ việc tranh chấp kinh tế và cơ chế giải quyết tranh chấp áp dụng cho các DNCVĐTNN.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở 3 nội dung trọng tâm của CCGQTCKT gồm: (1) Các phương thức giải quyết TCKT; (2) Các cơ quan giải quyết TCKT; (3) Ý thức pháp luật của các DNCVĐTNN trong giải quyết tranh chấp. Luận án chỉ tập trung vào TCKT (tranh chấp hợp đồng kinh tế và tranh chấp tổ chức, nội bộ doanh nghiệp), không nghiên cứu các tranh chấp lao động, tranh chấp dân sự thuần túy hoặc tranh chấp hành chính; đồng thời không nghiên cứu hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng (BCC) do hình thức này không thành lập pháp nhân mới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án đã điểm lại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến khía cạnh pháp lý của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và giải quyết tranh chấp:

  • Tài liệu nước ngoài: Cuốn sách "Liên doanh quốc tế: thực tiễn và kỹ thuật soạn thảo hợp đồng" của tác giả Klaus Langefeld-Wirth (NXB GLN Joly, Paris, 1992); bài viết "Trọng tài giải quyết tranh chấp về đầu tư nước ngoài tại TTTTQTVN" của GS. Kajuo Iwaski (Trường Đào tạo phát triển quốc tế GSIO, Đại học Tổng hợp Nagoya, Nhật Bản).
  • Tài liệu trong nước: Các nghiên cứu về khung pháp lý đầu tư trực tiếp nước ngoài, địa vị pháp lý về tài sản của DNLD (tiêu biểu như bài viết "Địa vị pháp lý về tài sản của DNLD trên lãnh thổ Việt Nam" của tác giả Nguyễn Trung Tín trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật), các nghiên cứu về chính sách thuế, thủ tục cấp phép đầu tư, và các bài viết đánh giá thực trạng xét xử tranh chấp kinh tế tại Tòa án nhân dân.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn

Các công trình khoa học trước đó chủ yếu tập trung vào việc sửa đổi các quy định của LĐTNN nhằm khắc phục vướng mắc về thủ tục hành chính, đất đai, thuế hoặc phân tích địa vị pháp lý tài sản của doanh nghiệp. Vấn đề giải quyết tranh chấp kinh tế của DNCVĐTNN hầu như mới chỉ được đề cập tản mạn ở từng khía cạnh tố tụng hoặc trọng tài đơn lẻ. Luận án của tác giả Phan Thị Hương Thủy là công trình tiến sĩ luật học đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp hoàn thiện CCGQTCKT dành riêng cho khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Hệ thống quan điểm triết học Mác - Lênin: Vận dụng phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn). Luận án nhìn nhận tranh chấp kinh tế là hiện tượng khách quan tất yếu trong đời sống kinh tế - xã hội. Việc giải quyết mâu thuẫn đúng quy luật là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp.
  • Quan điểm về chủ nghĩa tư bản nhà nước và chế độ tô nhượng: Dựa trên luận điểm của V.I. Lênin về việc sử dụng hình thức tư bản nhà nước và tô nhượng để thu hút vốn, kỹ thuật từ tư bản nước ngoài phục vụ xây dựng kinh tế.
  • Đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam: Các nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại và nguyên tắc bình đẳng, bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh các quy định của LĐTNN Việt Nam qua các thời kỳ (1987, 1996, 2000); so sánh DNCVĐTNN với các doanh nghiệp trong nước (thành lập theo Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995); so sánh giữa hai hình thức DNLD và Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (DN100%VNN); so sánh pháp luật Việt Nam với thông lệ quốc tế và pháp luật các nước trong khu vực (ASEAN, Đông Âu).
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các quy phạm pháp luật thực định và tổng hợp các mối quan hệ vận hành trong CCGQTCKT.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Rút ra các kết luận lý luận từ việc khảo sát thực tiễn tranh chấp.
  • Phương pháp thống kê, đối chiếu: Sử dụng dữ liệu thống kê của cơ quan quản lý nhà nước về tình hình dự án FDI, cơ cấu vốn và thực trạng xử lý tranh chấp.

Nguồn dữ liệu

Luận án khai thác hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (LĐTNN, Bộ luật Dân sự 1995, Luật Doanh nghiệp 1999, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994, Luật Phá sản doanh nghiệp 1993); số liệu thống kê chính thức từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương tính đến hết năm 2000.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng và phân tích các đặc điểm pháp lý của DNCVĐTNN cũng như bản chất của TCKT và CCGQTCKT.

Tác giả đưa ra định nghĩa tổng quát: DNCVĐTNN tại Việt Nam là một thực thể pháp luật, được thành lập theo LĐTNN tại Việt Nam vì mục đích lợi nhuận, dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có sự góp vốn một phần của một (hoặc một số) nhà đầu tư nước ngoài cùng với một (hoặc một số) nhà đầu tư Việt Nam, hoặc do một (hoặc một số) nhà đầu tư nước ngoài góp toàn bộ vốn, bao gồm DNLD và DN100%VNN.

Luận án tổng hợp số liệu về cơ cấu các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam tính đến hết năm 2000:

Hình thức đầu tư Số dự án Tỷ lệ số dự án (%) Số vốn đăng ký (tỷ USD) Tỷ lệ vốn đăng ký (%)
Doanh nghiệp liên doanh (DNLD) 1.035 39,45% 21,5 59,70%
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (DN100%VNN) 1.459 55,60% 10,7 29,74%
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) 130 4,95% 3,6 10,00%
Tổng cộng 2.624 100% 36,0 100%

(Nguồn: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2000)

Từ việc so sánh DNCVĐTNN với các doanh nghiệp trong nước và so sánh nội bộ giữa DNLD với DN100%VNN, chương 1 xác định các đặc điểm pháp lý cơ bản:

  1. Cơ sở pháp lý hình thành: Doanh nghiệp được thành lập trực tiếp dựa trên LĐTNN, phân biệt với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài nhưng thành lập theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (áp dụng cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài).
  2. Tư cách pháp nhân: DNCVĐTNN mang quốc tịch Việt Nam, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật nước sở tại, được hưởng chế độ đối xử quốc gia (không được hưởng quyền miễn trừ tư pháp trong tố tụng).
  3. Hình thức tổ chức: Hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, trách nhiệm tài sản giới hạn trong phạm vi vốn pháp định.
  4. Quản lý và điều hành: Cơ cấu quản trị của DNLD vận hành qua Hội đồng quản trị theo nguyên tắc nhất trí đối với các vấn đề trọng yếu, tạo nên sự phức tạp trong mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc điều hành, trong khi DN100%VNN do chủ đầu tư nước ngoài tự chủ quản lý.
  5. Chấm dứt hoạt động: Theo Khoản 2 Điều 53 LĐTNN, DNCVĐTNN bị tuyên bố phá sản theo luật phá sản nhưng pháp luật không cho phép doanh nghiệp tự nộp đơn xin tuyên bố phá sản nhằm ngăn ngừa việc trốn tránh nghĩa vụ thực hiện dự án đầu tư.

Chương 1 cũng làm rõ khái niệm CCGQTCKT là một chỉnh thể bao gồm: hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh quan hệ tranh chấp; các phương thức giải quyết (thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án); hệ thống cơ quan tài phán có thẩm quyền; và ý thức pháp luật của các bên tham gia tranh chấp.


Chương 2: Thực trạng cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chương 2 phân tích thực trạng tranh chấp và đánh giá toàn diện sự vận hành của CCGQTCKT tại Việt Nam trên các phương diện:

  • Thực trạng các loại hình TCKT:
    • Tranh chấp hợp đồng kinh tế: Phát sinh chủ yếu giữa DNCVĐTNN với các đối tác bên ngoài trong quá trình mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thuê đất, thi công xây dựng công trình.
    • Tranh chấp về tổ chức, hoạt động (nội bộ doanh nghiệp): Chiếm tỷ lệ đáng kể trong các DNLD, bắt nguồn từ sự bất đồng giữa các bên liên doanh về định giá vốn góp (đặc biệt là giá trị quyền sử dụng đất của bên Việt Nam và công nghệ, máy móc của bên nước ngoài), bất đồng trong biểu quyết tại Hội đồng quản trị do áp dụng nguyên tắc nhất trí, và xung đột quyền hạn giữa Chủ tịch Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc.
  • Thực trạng pháp luật thực định:
    • Những mặt được: Pháp luật đã từng bước tạo lập khuôn khổ pháp lý ghi nhận các quyền tự do thỏa thuận phương thức giải quyết tranh chấp của nhà đầu tư, công nhận vai trò của trọng tài và tòa án kinh tế.
    • Tồn tại, bất cập: Hệ thống văn bản còn thiếu đồng bộ, chồng chéo giữa LĐTNN, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; quy định về chọn luật áp dụng và thẩm quyền tài phán còn nhiều điểm mờ nhạt, chưa tương thích đầy đủ với chuẩn mực quốc tế.
  • Thực trạng 4 phương thức giải quyết tranh chấp:
    1. Phương thức thương lượng: Là phương thức được ưu tiên áp dụng nhiều nhất nhờ bảo đảm bí mật kinh doanh và duy trì quan hệ hợp tác, song hiệu quả phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên do thiếu cơ chế cưỡng chế thực thi.
    2. Phương thức hòa giải: Được thực hiện thông qua bên thứ ba hoặc thông qua vai trò trung gian hòa giải của cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), nhưng chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về quy chế hòa giải viên chuyên nghiệp.
    3. Phương thức trọng tài: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) và các tổ chức trọng tài nước ngoài đã giải quyết một số vụ việc, tuy nhiên cơ chế thi hành phán quyết trọng tài còn nhiều vướng mắc, thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam còn phức tạp.
    4. Phương thức tòa án: Thẩm quyền thuộc Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh; thực tiễn xét xử bộc lộ hạn chế về thời gian giải quyết kéo dài, năng lực chuyên môn của thẩm phán về thương mại quốc tế và ngoại ngữ còn hạn chế, các rào cản trong thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
  • Thực trạng ý thức pháp luật: Phân tích mức độ am hiểu và tuân thủ pháp luật của các nhà đầu tư nước ngoài cũng như đối tác Việt Nam; chỉ ra hiện tượng thiếu hiểu biết sâu sắc về pháp luật nước sở tại, tâm lý né tránh cơ quan tài phán hoặc thiếu thiện chí khi phát sinh bất đồng.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chương 3 đề xuất định hướng chiến lược và các giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện CCGQTCKT:

  • Phương hướng và nguyên tắc chỉ đạo:
    • Đáp ứng yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và các cam kết song phương, đa phương.
    • Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, bảo vệ chủ quyền quốc gia gắn liền với bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư.
    • Quán triệt quan điểm của Đảng về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, an toàn.
  • Hệ thống các giải pháp cụ thể:
    1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật thực định:
      • Sửa đổi, bổ sung LĐTNN và các đạo luật liên quan nhằm làm rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp nội bộ DNLD; hoàn thiện quy định về nguyên tắc biểu quyết trong Hội đồng quản trị (thay thế hoặc thu hẹp phạm vi áp dụng nguyên tắc nhất trí tuyệt đối để tránh tình trạng bế tắc hoạt động).
      • Xây dựng Luật Trọng tài thương mại thống nhất thay thế các quy định phân tán trước đây; hoàn thiện cơ chế công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài theo Công ước New York 1958.
      • Quy định rõ ràng về quyền lựa chọn luật áp dụng và cơ quan tài phán nước ngoài đối với các hợp đồng có yếu tố nước ngoài.
    2. Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền:
      • Nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp và trình độ ngoại ngữ cho đội ngũ thẩm phán Tòa kinh tế; chuẩn hóa quy trình tố tụng kinh tế nhằm rút ngắn thời gian giải quyết án.
      • Phát triển và nâng cao uy tín của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), đơn giản hóa thủ tục trọng tài, bảo đảm tính độc lập và khách quan của các trọng tài viên.
      • Xác định rõ phạm vi can thiệp và tăng cường vai trò hỗ trợ hòa giải của cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh).
    3. Tăng cường công tác giáo dục ý thức pháp luật:
      • Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật Việt Nam cho các nhà đầu tư nước ngoài ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án.
      • Bồi dưỡng kiến thức pháp luật thương mại quốc tế và kỹ năng đàm phán, soạn thảo hợp đồng cho đội ngũ cán bộ quản lý phía Việt Nam trong các doanh nghiệp liên doanh.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:

  1. Về mặt lý luận: Là công trình tiến sĩ luật học đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận về việc xây dựng và hoàn thiện CCGQTCKT của DNCVĐTNN.
  2. Về mặt hệ thống hóa khái niệm: Làm sáng tỏ nội hàm khái niệm DNCVĐTNN theo quy định pháp luật Việt Nam, phân định rõ ràng các yếu tố cấu thành khái niệm "cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế" và chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố: pháp luật thực định, phương thức giải quyết, cơ quan tài phán và ý thức pháp luật.
  3. Về phân loại và nhận diện đặc điểm tranh chấp: Hệ thống hóa các dạng tranh chấp kinh tế đặc thù của DNCVĐTNN, đặc biệt là tranh chấp nội bộ trong DNLD bắt nguồn từ cơ chế quản trị và sở hữu đa quốc tịch.
  4. Về đánh giá thực trạng: Cung cấp bức tranh thực trạng khách quan về hoạt động giải quyết tranh chấp qua 4 phương thức (thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án), chỉ rõ các rào cản pháp lý và hạn chế thực tiễn trong 15 năm thi hành LĐTNN.
  5. Về giải pháp thực tiễn: Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính đồng bộ từ sửa đổi luật thực định, nâng cao năng lực hệ thống tòa án, trọng tài đến nâng cao ý thức pháp lý của các chủ thể kinh doanh, phục vụ trực tiếp cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Do vấn đề xây dựng CCGQTCKT cho DNCVĐTNN là lĩnh vực rộng, phức tạp và còn nhiều ý kiến tranh luận tại thời điểm nghiên cứu (năm 2002), luận án chưa thể đi sâu chi tiết vào toàn bộ các khía cạnh kỹ thuật tố tụng chuyên sâu của từng loại hình cơ quan tài phán.
  • Hướng nghiên cứu tiếp được tác giả chỉ ra:
    • Nghiên cứu chuyên sâu về trình tự, thủ tục chi tiết giải quyết TCKT của DNCVĐTNN tại Trọng tài thương mại và Tòa án nhân dân Việt Nam.
    • Vấn đề xung đột pháp luật và kỹ thuật áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế trong giải quyết TCKT của DNCVĐTNN.
    • Cơ chế pháp lý thi hành các phán quyết của trọng tài theo sự lựa chọn của các bên tranh chấp.
    • Vấn đề luật áp dụng và thẩm quyền tài phán khi các bên lựa chọn tòa án hoặc trọng tài nước ngoài.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng trong công tác nghiên cứu, đào tạo và thực thi pháp luật:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn cho Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tòa án nhân dân tối cao trong quá trình soạn thảo, sửa đổi các văn bản luật như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Tố tụng Dân sự và Pháp lệnh Trọng tài thương mại.
  • Cơ quan tài phán (Tòa án, Trọng tài): Là nguồn tài liệu tham khảo hỗ trợ Thẩm phán, Trọng tài viên nhận diện bản chất các tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là các xung đột nội bộ trong doanh nghiệp liên doanh.
  • Giảng viên, học viên, nghiên cứu sinh: Đóng vai trò là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo trong các chương trình đào tạo sau đại học ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế và Luật Đầu tư.
  • Cộng đồng doanh nghiệp và luật sư tư vấn: Giúp các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài nhận diện trước các rủi ro pháp lý trong quá trình đàm phán hợp đồng liên doanh, xây dựng điều lệ công ty và lựa chọn phương thức giải quyết bất đồng phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu số lượng và quy mô vốn giữa hai hình thức DNLD và DN100%VNN tại Việt Nam tính đến năm 2000 được luận án nêu như thế nào?

Theo số liệu từ Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tính đến hết năm 2000 được dẫn trong luận án, tổng số dự án FDI còn hiệu lực là 2.624 dự án với 36 tỷ USD vốn đăng ký. Trong đó:

  • DN100%VNN chiếm số lượng dự án lớn hơn với 1.459 dự án (55,60%), nhưng vốn đăng ký chỉ đạt 10,7 tỷ USD (29,74%).
  • DNLD có 1.035 dự án (39,45%), nhưng chiếm tỷ trọng chi phối về vốn đăng ký với 21,5 tỷ USD (59,70%).
  • Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) có 130 dự án (4,95%) với 3,6 tỷ USD vốn đăng ký.

2. Tiêu chí pháp lý cốt lõi để xác định một doanh nghiệp là DNCVĐTNN theo quy định pháp luật Việt Nam thời kỳ này là gì?

Căn cứ xác định DNCVĐTNN theo luận án là doanh nghiệp đó phải được thành lập trực tiếp dựa trên cơ sở pháp lý của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nếu một doanh nghiệp có vốn của nhà đầu tư nước ngoài (ví dụ người Việt Nam định cư ở nước ngoài) nhưng thành lập theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước hoặc Luật Doanh nghiệp 1999 thì không được gọi là DNCVĐTNN theo quy định của LĐTNN.

3. Tại sao cơ chế quản trị trong Doanh nghiệp liên doanh (DNLD) lại dễ phát sinh tranh chấp kinh tế nội bộ hơn DN100%VNN?

Trong DNLD có sự kết hợp của các chủ thể mang quốc tịch khác nhau và hình thức sở hữu khác nhau (vốn nhà nước phía Việt Nam và vốn tư nhân phía nước ngoài). LĐTNN quy định Hội đồng quản trị hoạt động theo nguyên tắc nhất trí đối với các vấn đề quan trọng, dẫn tới nguy cơ bế tắc khi hai bên bất đồng quan điểm. Ngoài ra, mối quan hệ phân định quyền hạn giữa Chủ tịch Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc (Tổng giám đốc) thường nảy sinh xung đột về quyền đại diện theo pháp luật và điều hành thực tế.

4. Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về việc chấm dứt hoạt động của DNCVĐTNN trong trường hợp phá sản?

Theo Khoản 2 Điều 53 LĐTNN, DNCVĐTNN khi mất khả năng thanh toán nợ đến hạn chỉ chấm dứt hoạt động khi "bị tuyên bố phá sản" bởi Tòa án theo quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp. Pháp luật không cho phép DNCVĐTNN tự nộp đơn xin tuyên bố phá sản như các doanh nghiệp trong nước nhằm ngăn chặn tình trạng nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng thủ tục này để trốn tránh nghĩa vụ triển khai dự án hoặc tẩu tán tài sản.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để hoàn thiện CCGQTCKT?

Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm: (1) Hoàn thiện hệ thống pháp luật thực định (sửa đổi quy định LĐTNN về biểu quyết trong HĐQT, ban hành văn bản pháp luật về trọng tài thương mại, quy định rõ luật áp dụng); (2) Đổi mới và nâng cao năng lực của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (nâng cao trình độ thẩm phán Tòa kinh tế, phát triển Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam VIAC); (3) Tăng cường giáo dục ý thức pháp luật và kỹ năng đàm phán hợp đồng cho các chủ thể tham gia DNCVĐTNN.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Thị Hương Thủy đã giải quyết một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn 1987 - 2002. Công trình đã làm rõ hệ thống khái niệm, phân tích sâu sắc các đặc điểm pháp lý đặc thù của doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, đồng thời chỉ ra những điểm nghẽn của hệ thống tài phán hiện hành. Hệ thống các quan điểm và giải pháp do luận án đề xuất là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, nâng cao hiệu quả bảo hộ đầu tư và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.