Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1. Các khái niệm về TGHĐ Khái niệm về TGHĐ Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của hai nước. Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính bằng một đồng tiền khác. Thông thường tỷ giá hối đoái được biểu diễn thông qua tỷ lệ bao nhiêu đơn vị đồng tiền nước này (nhiều hơn một đơn vị) bằng một đơn vị đồng tiền của nước kia.
Ví dụ: tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ là 16045 VND/USD hay giữa Yen Nhật và Dollar Mỹ là 116,729 JPY/USD hay giữa Dollar Mỹ và Euro là 1,28262 USD/Euro. Đồng tiền để ở số lượng một đơn vị trong các tỷ lệ như những ví dụ trên gọi là đồng tiền định danh hay đồng tiền cơ sở. Vì thế, khi cần thể hiện một cách nghiêm ngặt và chính xác, người ta thường nói: "Tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ trên thị trường ngoại hối định danh bằng Dollar Mỹ là 16045 Đồng bằng 1 Dollar" hoặc "Tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ trên thị trường ngoại hối định danh bằng Đồng Việt Nam là 0,0000624 Dollar bằng 1 Đồng". TGHĐ danh nghĩa và TGHĐ thực TGHĐ danh nghĩa là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo nội tệ và chưa tính đến sức mua của đồng tiền.
TGHĐ thực là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo giá tương đối giữa các nước. Tỷ giá này tăng lên đồng tiền trong nước được coi là bị giảm giá thực so với đồng tiền nước ngoài và khi tỷ giá này giảm thì đồng tiền trong nước được coi là bị tăng giá thực so với đồng tiền nước ngoài. TGHĐ hiệu quả thực là tỷ giá được điều chỉnh theo một số các tỷ giá thực của các nước đối tác thương mại. Tỷ giá này được xem là thước đo hữu hiệu khả năng cạnh tranh của một nước trong quan hệ thương mại với các nước khác bởi nó xét đến tỷ giá thực giữa đồng tiền của một nước với nhiều nước tham gia trao đổi thương mại với nước đó.
-6- TGHĐ thực cân bằng là mức tỷ giá mà tại đó nền kinh tế đồng thời đạt cân bằng bên trong (cân bằng trên thị trường hàng hoá phi mậu dịch) và cân bằng bên ngoài (cân bằng tài khoản vãng lai). Tỷ giá thực cân bằng có mối quan hệ mật thiết với các biến số kinh tế khỏc, nú thể hiện độ nhạy của các biến kinh tế đối với chính sách kinh tế vĩ mô đặc biệt là trong ngắn và trung hạn. Các loại TGHĐ TGHĐ cố định Tỷ giá cố định là tỷ giá hình thành trong chế độ tiền tệ Bretton Woods. Tỷ giá cố định chính là tỷ giá chính thức do nhà nước công bố.
Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì được tỷ giá cố định buộc nhà nước phải thường xuyên can thiệp. Nhận định chung về chế độ tỷ giá cố định: Đây là chế độ tỷ giá hối đoái mà ở đó Nhà nước, cụ thể là NHTW tuyên bố sẽ duy trì tỷ giá giữa đồng tiền của quốc gia mình với một hoặc một số đồng tiền nào đó ở một mức độ nhất định. Ở đây, NHTW đóng vai trò điều tiết lượng dư cầu hoặc dư cung về ngoại tệ để giữ tỷ giá hối đoái cố định bằng cách bán ra hoặc mua vào số dư đó. Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định: + Thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế vỡ nú mang lại một môi trường ổn định, thuận lợi, ít rủi ro cho các hoạt động kinh doanh.
+ Buộc các chính phủ phải hoạch định và thực thi các chính sách vĩ mô. + Thỳc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tránh những xung đột về mục tiêu chính sách và những biến động về tỷ giá. Hạn chế của chế độ tỷ giá cố định: + Thường chịu sức ép lớn mỗi khi xảy ra các cơn sốc từ bên ngoài hoặc từ thi trường hàng hoá trong nước, bởi khi đó mức chênh lệch thực tế quá lớn về giá trị giữa nội tệ và ngoại tệ sẽ dẫn đến phá vỡ mức cân bằng tỷ giá. + Chế độ tỷ giá cố định làm mất tính chủ động của chính sách tiền tệ, khiến cho NHTW gặp khó khăn trong việc thay đổi lượng tiền cung ứng.
-7- + Đặc biệt, nó làm cho các quốc gia dễ rơi vào tình trạng "nhập khẩu lạm phát" không mong muốn. TGHĐ thả nổi Trong một hệ thống tỷ giá thả nổi tự do, tỷ giá sẽ được các lực thị trường ấn định mà không có sự can thiệp của chính phủ. Theo hệ thống này, các công ty đa quốc gia sẽ cần phải dành nhiều thời gian đáng kể cho việc tính toán và quản lý các rủi ro do dao động tỷ giá. Trong một hệ thống tỷ giá cố định, các công ty này sẽ ít phải bận tâm về việc lên xuống hàng ngày của tỷ giá.
Các điểm thuận lợi của một hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi tự do: Từ một quan điểm vĩ mô, liên quan đến sự ổn định của toàn thế giới, một hệ thống thả nổi tự do có thể được ưa thích hơn một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định. Để minh họa, giả dụ rằng chỉ có hai quốc gia trên thế giới: Mỹ và Anh. Hai quốc gia này mua bán thường xuyên với nhau. Bây giờ giả sử rằng hệ thống tỷ giá hối đoái giữa hai nước cố định.
Nếu Mỹ có mức lạm phát cao hơn ở Anh, chúng ta có thể dự kiến người tiêu dùng Mỹ mua nhiều hàng của Anh hơn và người tiêu dùng Anh giảm bớt việc nhập khẩu hàng Mỹ (do giá hàng Mỹ cao hơn). Phản ứng này sẽ làm cho sản xuất của Mỹ giảm và thất nghiệp tăng. Nó cũng có thể làm cho lạm phát ở Anh tăng do nhu cầu hàng hóa của Anh vượt mức cung hàng hóa do Anh sản xuất. Nói tóm lại, lạm phát cao ở Mỹ có thể gây ra lạm phát cao ở Anh.
Các kết quả sẽ không nhất thiết giống như vậy trong một môi trường tỷ giá hối đoái thả nổi tự do. Do lạm phát ở Mỹ cao, việc gia tăng nhu cầu của Mỹ đối với hàng hóa Anh sẽ gây áp lực tăng giá trị đồng bảng Anh. Là kết quả thứ hai của mức lạm phát cao ở Mỹ, việc mức cầu của Anh đối với hàng hóa Mỹ giảm sẽ hàm ý mức cung đồng bảng Anh để bán (chuyển đổi thành đô la) cũng giảm. Đến lượt mình, sự giảm này cũng sẽ gây áp lực tăng giá trị đồng bảng Anh.
Đồng bảng Anh sẽ tăng giá do các lực thị trường này (trong một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định đồng bảng Anh sẽ không được phép tăng giá). Sự tăng giá này sẽ làm cho hàng hóa của Anh đắt hơn đối với người tiêu dùng Mỹ- đắt như hàng hóa Mỹ ngay cả khi các nhà sản xuất Anh không tăng giá hàng của mình. Giá cả hàng hóa cao hơn -8- là do đồng bảng Anh tăng giá, đòi hỏi phải cần một lượng đô la lớn hơn để mua cùng một lượng bảng Anh như trước đây. Ở Anh giá cả thực sự ở Mỹ tăng, người tiêu dùng Anh sẽ tiếp tục mua hàng hóa Mỹ vì đồng bảng của họ có thể đổi lấy nhiều đô hơn (do đồng bảng tăng giá so với đồng đô la).
Phần trình bày trên cho thấy rằng lạm phát ở Mỹ sẽ có một ảnh hưởng lớn hơn đối với lạm phát ở các nước khác trong một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định hơn là trong hệ thống tỷ giá thả nổi. Các vấn đề một nước này gặp phải không nhất thiết sẽ lây nhiễm sang các nước khác trong một môi trường tỷ giá hối đoái thả nổi tự do. Trong thí dụ trên, Anh có phần nào bị cách ly khỏi tác động của lạm phát Mỹ nhờ vào các biến động trong tỷ giá. Ta hãy xem một vấn đề kinh tế thường gặp kế tiếp đó là thất nghiệp.
Trong một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, mức thất nghiệp cao ở Mỹ sẽ gây nên một sự giảm sút trong thu nhập của Mỹ và suy giảm sức mua của Mỹ đối với hàng hóa của Anh. Do đó năng suất của Anh có thể giảm và thất nghiệp ở Anh tăng. Trong hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi, việc giảm trong sức mua của Mỹ đối với hàng hóa của Anh sẽ phản ánh một sự sụt giảm trong nhu cầu của Mỹ đối với đồng bảng Anh. Sự thay đổi trong nhu cầu có thể làm cho đồng bảng Anh giảm giá so với đồng đô la (trong một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, đồng bảng Anh sẽ không được phép giảm giá).
Sự giảm giá của đồng bảng sẽ làm cho hàng hóa của Anh có vẻ rẻ hơn đối với người tiêu dùng Mỹ, bù trừ lại việc suy giảm có thể có trong mức cầu đối với hàng hóa Anh do mức thu nhập thấp hơn ở Mỹ. Cũng giống như trường hợp lạm phát, một sự thay đổi đột ngột trong mức thất nghiệp có vẻ ít tác động đến nước ngoài trong một hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi hơn là trong một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định. Một lợi điểm khác của tỷ giá thả nổi tự do là các ngân hàng trung ương không bị đòi hỏi phải liên tục duy trì tỷ giá hối đoái trong biên độ đã định. Vì vậy, họ không bị buộc phải thực hiện một chính sách can thiệp có thể tạo nên những tác động không thuận lợi đối với nền kinh tế chỉ để kiểm soát tỷ giá.
Hơn nữa, các chính phủ có thể thực thi những chính sách mà không cần bận tâm là các chính -9- sách này sẽ duy trì được tỷ giá trong vòng các biên độ quy định hay không. Cuối cùng, nếu tỷ giá không được phép thả nổi, các nhà đầu tư sẽ đầu tư vốn của mình vào bất cứ nước nào có lãi suất cao nhất. Điều này có thể sẽ làm cho chính phủ của các nước có lãi suất thấp hạn chế vốn của các nhà đầu tư đem ra khỏi nước mình. Như vậy, sẽ có nhiều hạn chế dòng vốn và hiệu quả của thị trường tài chính sẽ bị sút giảm.
Các điểm bất lợi của một hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi: Trong các thí dụ trước, nước Anh có phần nào được cách ly khỏi những vấn đề mà Mỹ gặp phải nhờ hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi tự do.