Chương 1: Cơ chế Đánh giá Định kỳ toàn thể về quyền con người của Liên Hợp quốc - Chương 2: Thực tế tổ chức thực hiện Cơ chế đánh giá Định kỳ toàn thể về quyền con người của Liên Hợp quốc ở Việt Nam - Chương 3: Hoàn thiện việc tổ chức thực hiện Cơ chế Đánh giá Định kỳ toàn thể về quyền con người của Liên Hợp quốc ở Việt Nam. 6 Chƣơng 1 CƠ CHẾ ĐÁNH GIÁ ĐỊNH KỲ TOÀN THỂ VỀ QUYỀN CON NGƢỜI CỦA LIÊN HỢP QUỐC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quyền con người Quyền con người (human rights) là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới.
Đây là tiếng nói chung, mục tiêu chung và phương tiện chung của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi cá nhân, bất kể người đó thuộc dân tộc, chủng tộc, giới tính, tôn giáo, thành phần, giai cấp…nào. Quyền con người là một phạm trù đa diện, hiện có nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy nhân quyền Liên hợp quốc thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu, theo đó: “Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự cho phép và tự do cơ bản của con người”. [32] Bên cạnh đó, nhân quyền còn được định nghĩa một cách khái quát là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người. [34] Quyền con người là nền tảng mà dựa trên đó xã hội loài người được xây dựng và cuộc sống của các cá nhân mới có ý nghĩa.
Quyền con người là biểu trưng phân biệt của loài người với các loài vật khác, cũng như là những dấu hiệu để xác định tính nhân loại của chúng ta. Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia nêu ra. Những định nghĩa này cũng không 7 hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người”.
Về mặt ngôn ngữ học, đây là hai từ đồng nghĩa, hoàn toàn có thể sử dụng được trong nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về quyền con người. [6] Cùng với sự ra đời của Liên Hợp quốc năm 1945, nhân quyền đã trở thành mối quan tâm chung của nhân loại và ngày càng được chú trọng. Đặc biệt, sau Hội nghị nhân quyền thế giới lần thứ hai tại Viên (Áo) năm 1993, nhân quyền ngày càng có vị trí quan trọng trong các diễn đàn quốc tế và khu vực. Đối thoại nhân quyền song phương và đa phương ngày càng được mở rộng giữa các quốc gia.
Trong những năm gần đây, Liên minh châu Âu, Mỹ, Na Uy, Thụy Sỹ… đều tổ chức thực hiện đối thoại nhân quyền hàng năm với nhiều quốc gia, trong đó có các quốc gia trong khu vực Châu Á như Trung Quốc, Việt Nam với tinh thần xây dựng, thẳng thắn, trao đổi thông tin, kinh nghiệm về chính sách, pháp luật của nhà nước về quyền con người và thực tế bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, qua đó hạn chế những thông tin sai lệch, thiếu khách quan. Tuy nhiên, vấn đề nhân quyền hiện vẫn còn gây nhiều tranh cãi trên các diễn đàn quốc tế, thậm chí được coi là vấn đề nhạy cảm, phức tạp… Nhiều câu hỏi được đặt ra về mối quan hệ giữa quyền con người và các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, xã hội, văn hóa; quyền con người với an ninh con người, quyền con người với tự do, dân chủ, quản trị tốt và chống tham nhũng, quyền con người với tăng trưởng kinh tế, với xóa đói giảm nghèo, những giới hạn 8 của quyền con người, trách nhiệm của các tổ chức quốc tế và của các quốc gia trong việc tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền con người… Từ trước đến nay, vấn đề nhân quyền thường được các quốc gia, theo từng khối, nhóm, chính thức hoặc không chính thức, hay trên phương diện song phương, sử dụng để chỉ trích, công kích lẫn nhau trên các diễn đàn quốc tế. Ví dụ như Bộ Ngoại giao Mỹ hàng năm công bố một số báo cáo liên quan đến tình hình nhân quyền, tự do tôn giáo, chống buôn người và thúc đẩy dân chủ ở các quốc gia trên thế giới nhưng nội dung bản báo cáo đều gây tranh cãi giữa Mỹ với nhiều nước, thậm chí phản ứng theo kiểu ăn miếng trả miếng. Từ năm 1998, Văn phòng thông tin Quốc vụ viện Trung Quốc cũng ra báo cáo về tình hình nhân quyền tại Mỹ, tập trung vào những hạn chế trong việc thực thi nhân quyền, chẳng hạn như vấn đề liên quan đến kỳ thị chủng tộc, tỷ lệ tội phạm cao, nghèo đói, đối xử vô nhân đạo với tù nhân… Hay như phản ứng của Bộ Ngoại giao Nga ngày 10/3/2006, trong đó Chính phủ Nga đã kịch liệt phản đối một báo cáo chính thức của Mỹ phê phán tình hình nhân quyền ở Nga, cho rằng bản báo cáo thường niên do Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra là không khách quan, việc này có thể phương hại đến mối quan hệ hai nước… 1.
Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của Liên hợp quốc Xét một cách tổng quát, cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của Liên hợp quốc là tổng hợp cơ cấu bộ máy và các biện pháp mà tổ chức này vận dụng để hiện thực hóa các quyền con người cho tất cả cá nhân trên thế giới. Cơ chế này thường được chia thành hai nhánh: cơ chế dựa trên Hiến chương và cơ chế dựa trên công ước. * Cơ chế dựa trên Hiến chương: Có 5 cơ quan được thành lập theo Hiến chương gồm Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế - Xã hội, Toà án Công lý Quốc tế và Ban Thư ký (trước kia là 6 cơ quan gồm cả Hội đồng Quản thác nhằm giúp một số 9 quốc gia kém phát triển sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, tuy nhiên, Hội đồng Quản thác đã dừng hoạt động vào năm 1994). Theo Cơ chế dựa trên Hiến chương, các cơ quan trên có nhiệm vụ đánh giá thực trạng quyền con người của các quốc gia thành viên Liên Hợp quốc.
Các cơ quan này của Liên Hợp quốc được giúp việc bởi một số các cơ quan chuyên trách về quyền con người, mà xét theo chức năng nhiệm vụ, về cơ bản có thể phân chia (một cách tương đối) hệ thống này thành hai loại chính: các cơ quan hỗ trợ về dịch vụ hành chính và các cơ quan hỗ trợ về chuyên môn. Các cơ quan hỗ trợ về hành chính được Ban Thư ký lập ra nhằm cung cấp dịch vụ hành chính cho bộ máy các cơ quan về quyền con người của Liên Hợp quốc, trong đó quan trọng nhất là Văn phòng Cao ủy nhân quyền Liên Hợp quốc. Những cơ quan này được thành lập tương ứng với những lĩnh vực hoạt động chủ yếu của quyền con người. [6] Các cơ quan hỗ trợ về chuyên môn do Đại hội đồng và Hội đồng Kinh tế - Xã hội (ECOSOC) lập ra với nhiệm vụ chủ yếu là trợ giúp về chuyên môn trong những hoạt động về quyền con người.
Cơ quan giúp việc chuyên môn quan trọng nhất của Đại hội đồng mới được thành lập gần đây là Hội đồng nhân quyền (HRC) thay thế cho Ủy ban nhân quyền (CHR). Các cơ quan giúp việc của ECOSOC được thành lập trên cơ sở Điều 68 Hiến chương, trong đó có hai cơ quan giúp việc quan trọng về quyền con người là Ủy ban nhân quyền, Uỷ ban về vị thế của phụ nữ, trong đó Ủy ban nhân quyền (the UN Commission on Human Rights) được thành lập từ năm 1946, vốn có chức năng rất rộng, nhưng hiện đã bị giải thể và thay thế bằng Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc. Việc thành lập Hội đồng nhân quyền xuất phát từ sự yếu kém trong hoạt động của Ủy ban nhân quyền (ở góc độ nhất định, đồng thời cũng là những hạn chế chung của bộ máy quyền con người của Liên Hợp quốc trong 10 những thập niên vừa qua) đó là thất bại trong việc cải thiện tình hình và xử lý những vi phạm nghiêm trọng về quyền con người diễn ra ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới. Sự yếu kém của Ủy ban nhân quyền được cho là xuất phát từ hai nguyên nhân cơ bản đó là: Thứ nhất, hoạt động của cơ quan này từ lâu đã bị chính trị hóa nặng nề, thể hiện ở những vấn đề như tính cấu kết khu vực, sử dụng chuẩn mực kép, phân biệt đối xử trong lựa chọn và xử lý các tình huống, vấn đề, hay tình trạng lợi dụng khe hở của các thủ tục làm việc để ngăn chặn việc thảo luận về những vụ việc bất lợi cho những quốc gia nhất định, hoặc về những vấn đề bất đồng nhất định…; Thứ hai, tình trạng “đánh trống buông dùi” trong hoạt động, cụ thể là đưa ra nhiều khuyến nghị và nghị quyết nhưng không có khả năng theo dõi, giám sát việc thực hiện.
Theo Nghị quyết 60/251 của Đại hội đồng, Hội đồng nhân quyền có những chức năng, nhiệm vụ sau: (1) Thúc đẩy những hoạt động giáo dục, nghiên cứu, dịch vụ tư vấn, trợ giúp kỹ thuật và xây dựng năng lực về quyền con người ở các quốc gia; (2) Thúc đẩy việc thực thi đầy đủ những nghĩa vụ về quyền con người ở các quốc gia; (3) Đóng vai trò là một diễn đàn để đối thoại về những chủ đề cụ thể về quyền con người; (4) Đưa ra những khuyến nghị với Đại hội đồng về sự phát triển của luật nhân quyền quốc tế; (5) Thực hiện đánh giá định kỳ toàn thể việc tuân thủ các nghĩa vụ và cam kết về quyền con người của các quốc gia; (6) Thông qua đối thoại và hợp tác để góp phần phòng ngừa những vi phạm quyền con người và phản ứng kịp thời với những tình huống khẩn cấp về quyền con người; (7) Hợp tác chặt chẽ với các chính phủ, các tổ chức khu vực, các cơ quan quyền con người quốc gia, các tổ chức xã hội dân sự trong những hoạt động về quyền con người; (8) Báo cáo công tác hàng năm với Đại hội đồng.