Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO VỆ HIẾN PHÁP 1. Vị trí, vai trò của Hiến pháp Có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về khái niệm “Hiến pháp”, Nhà nƣớc cổ La Mã dùng thuật ngữ này để gọi các văn bản quy định của Nhà nƣớc. Ở Phƣơng Đông thuật ngữ "Hiến pháp" “được dùng với nghĩa là pháp lệnh, kỷ cương, phép nước” [4, tr. Ngày nay, tùy theo góc nhìn của mình mà các nhà nghiên cứu đƣa ra định nghĩa khác nhau về Hiế n pháp.
Theo Montesquieu, nhà tƣ tƣởng vĩ đại ngƣời Pháp thì hiến pháp mang một ý nghĩa chính trị: “hiến pháp tổ chức nhiều quyền lực trong nhà nước và tương quan giữa các quyền lực đó với nhau để quyền lực, một hiện tượng đáng sợ, trở thành ôn hòa. Một chính thể ôn hòa là một chính thể tốt nhất, như Aristote đã quan niệm từ thời cổ đại Hy Lạp” [12]. Theo quan điểm của giáo sƣ G.Diveger cho rằng quy pha ̣m “Hiến pháp có các quy phạm có tính cơ bản. Những quy phạm pháp luâ ̣t đƣợc ban hành trái với Hiến pháp , thiếu những hình thức mà Hiến pháp đã chỉ ra, thì sẽ không có giá trị”.
Theo ông, Hiến pháp có mục đích quy định tính trội hơn của "quyền lập quyền", tức quyền lập hiến, phải khác với "quyền đƣợc lập ra", tức là quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tƣ pháp. “Quyền lập hiến có tính chấ t nguyên thủy và vô hạn chế, tức là khẳng định ƣu thế của quyền lập hiến trên các quyền đƣợc hiế n pháp thiết lập” [4, tr.35], bởi lẽ Hiến pháp do ngƣời dân làm ra còn luật do ngƣời ủy quyền của ngƣời dân, đại diện cho ngƣời dân làm ra: “Có một nguyên tắc rõ ràng là một quyền lực ủy nhiệm thi hành trái ngƣợc với nhiệm vụ thì sẽ bị coi nhƣ là vô hiệu lực. Nhƣ vậy, không có một đạo luật nào 9 z do ngành lập pháp làm ra trái ngƣợc với Hiến pháp lại có thể coi là hợp pháp và có hiệu lực. Nếu không công nhận nguyên tắc trên thì tức là xác nhận rằng ngƣời phụ tá sẽ có nhiều quyền hơn ngƣời quyền trƣởng, rằng ngƣời đầy tớ mà lại có nhiều quyền hơn ngƣời chủ, rằng đại diện dân chúng lại có nhiều quyền hơn dân chúng, rằng ngƣời ủy quyền lại có quyền làm những điều mà ngƣời ủy quyền cấm đoán [24].
Về mặt nội dung, Hiến pháp là các quy tắc pháp lý quan trọng nhất của quốc gia, ấn định cơ cấ u tổ chƣ́c , thẩ m quyề n , mố i quan hê ̣ qua la ̣i các thiế t chế trong bô ̣ máy nhà nƣớc của quốc gia và quy đinh ̣ quyề n , nghĩa vụ cơ bản của công dân. Wormuth trong ấn phẩm Nguồn gốc của chủ nghĩa hợp hiến hiện đại đã viết: Hiến pháp thƣờng đƣợc định nghĩa là tổng thể các quy tắc thành văn hoặc bất thành văn, pháp lý hay siêu pháp lý quy định về chính quyền và sự vận hành của nó. Tuy nhiên, có những ý tƣởng về sự hạn chế nằm trong danh từ Hiến pháp - ý tƣởng về Hiến pháp nhƣ một sự sắp đặt không chỉ quy định mà còn giới hạn chính quyền, ít nhất là trong những hoạt động thƣờng nhật của nó [23]. Theo cuố n Tƣ̀ điể n Luâ ̣t ho ̣c của Nhà xuấ t bản Tƣ̀ điể n Bách khoa (xuấ t bản năm 1999): “Hiế n pháp, đạo luật cơ bản, văn bản quy phạm pháp luật có hiê ̣u lực pháp lý cao nhấ t do Quố c hội thông qua , quy đi ̣nh các vấ n đề quan trọng nhất và chung nhất của nhà nước.
Hiế n pháp là văn kiê ̣n cơ bản quy đi ̣nh tổ chức Nhà nước và viê ̣c điề u hành quyề n lực” [19]. Trong lich ̣ sƣ̉ lâ ̣p hiế n của nhân loa ̣i , thời kỳ đầ u , đố i tƣơ ̣ng điề u chỉnh của Hiến pháp chỉ là những quan hệ về tổ chức chính quyền nhà nƣớc ở cấp trung ƣơng, thể hiện ở nguyên tắc thiế t kế , phân chia quyền lực. Tuy nhiên, càng về sau này , để phù hợp với sự phát triển của dân chủ , đối tƣợng điều 10 z chỉnh của Hiến pháp ngày càng đƣợc mở rộng. Lúc này, Hiế n pháp không chỉ quy định việc tổ chức quyền lực nhà nƣớc, mà còn quy định cả quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Mă ̣c dù còn có mô ̣t số quan điể m chƣa thố ng nhấ t về thuâ ̣t ngƣ̃ “hiế n pháp”. Tuy nhiên, các quan điểm đều thừa nhận : “Hiến pháp là một đạo luật cơ bản của quố c gia, do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, quy định việc tổ chức bộ máy nhà nước , cơ cấu , thẩm quyền các cơ quan nhà nước và quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân” [4, tr. Về ý nghiã chin ́ h tri ̣ , Hiế n pháp là bản văn tuyên bố chủ quyề n của quố c gia, ghi nhâ ̣n chin ́ h quyề n hơ ̣p hiế n , cách thức tổ chức , cơ chế vâ ̣n hành của quyền lực nhà nƣớc, quyề n và nghiã vu ̣ của công dân. Về ý nghĩa pháp lý, trong các phƣơng thức hạn chế quyền lực nhà nƣớc, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhân dân, có vị trí tối thƣợng, là phƣơng thức quan trọng nhất để hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nƣớc.
Bởi lẽ, “Trong các vấn đề về quyền lực, đừng nói thêm gì nữa về lòng tin vào đức tính tốt của con người, mà phải trói anh ta lại bằng sợi dây xích Hiến pháp để anh ta không còn làm được những điều ác” [3, tr. Vi phạm Hiến pháp và các loại hình vi phạm Hiến pháp Lịch sử lập hiến nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã biết đến năm bản Hiến pháp, nhƣng đến nay, hoạt động bảo hiến của chúng ta vẫn chƣa thật sự hiệu quả, hiệu lực. Một trong những lý do của hạn chế này là chúng ta chƣa nghiên cứu nhằm chỉ ra các vi phạm Hiến pháp và các dấu hiệu cơ bản của hành vi vi phạm Hiến pháp. Xuất phát từ việc ghi nhận Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của một quốc gia thì tất yếu có thể xảy ra vi phạm Hiến pháp.
Theo lý luận chung về nhà nƣớc và pháp luật thì “vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ” [16, tr. 11 z Tuy nhiên, Hiến pháp là văn bản pháp luật có những đặc thù, do đó vi phạm Hiến pháp có đặc trƣng riêng so với các vi phạm pháp luật khác. Qua nghiên cứu có thể khái quát khái niệm vi phạm Hiến pháp nhƣ sau: “Vi phạm Hiến pháp là hành vi trái Hiến pháp, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được Hiến pháp bảo vệ do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý” [18]. Qua khái niệm này, chúng ta có thể xác định dấu hiệu vi phạm Hiến pháp nhƣ sau: Một là, về hành vi: hành vi vi phạm Hiến pháp có thể là hành động hoặc không hành động vi phạm quy định của Hiến pháp gây thiệt hại cho xã hội, xâm phạm tới các quan hệ xã hội đƣợc Hiến pháp bảo vệ.
Hai là, về chủ thể thực hiện hành vi vi phạm Hiến pháp: với ý nghĩa Hiến pháp là khế ƣớc xã hội qua đó nhân dân là cội nguồn của quyền lực, ủy quyền cho những ngƣời đại diện cho ý chí của mình, tạo dựng nên một bộ máy công quyền, thực hiện chủ quyền nhân dân, đảm bảo trật tự công. Thiết chế nhà nƣớc đƣợc cấu trúc bởi Hiến pháp có ý nghĩa là một công cụ chính trị - pháp lý đảm bảo duy trì trật tự và thực thi các quyền và tự do cơ bản của con ngƣời, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Xét dƣới góc độ pháp lý và thực tiễn cuộc sống thì chủ thể của hành vi vi phạm Hiến pháp (vi phạm bản khế ƣớc xã hội) có thể là một trong hai bên tham gia khế ƣớc đó. Tuy nhiên, với đặc thù của bản khế ƣớc này.
Khi ngƣời dân ủy quyền cho ngƣời đại diện của mình nắm lấy quyền lực thì ngƣời dân luôn ở vào vị trí yếu thế. Và khi đó ngƣời dân không thể có khả năng vi phạm trật tự do Hiến pháp xác lập mà trật tự do Hiến pháp xác lập chỉ có thể bị vi phạm bởi chủ thể có quyền lực từ Hiến pháp. Chủ thể đó có thể là cá nhân mang quyền lực do Hiến pháp xác định hoặc một cơ quan, tổ chức có quyền lực từ Hiến pháp. Ba là, khách thể vi phạm Hiến pháp: hành vi vi phạm Hiến pháp xâm phạm tới trật tự do Hiến pháp xác lập, bao gồm: 12 z - Trật tự xác lập cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ trong bộ máy nhà nƣớc: theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, quyền lực nhà nƣớc là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp.
Từ đây, có thể xuất hiện tình huống là chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao theo quy định của Hiến pháp. - Chủ thể mang quyền lực do Hiến pháp xác lập hành động hoặc không hành động xâm phạm tới quyền của công dân đƣợc Hiến pháp ghi nhận. Hiến pháp với ý nghĩa là đạo luật cơ bản của quốc gia, ngoài việc thiết lập mô hình tổ chức bộ máy nhà nƣớc còn xác định quyền cơ bản của công dân. Qua đó, cơ quan nhà nƣớc có trách nhiệm đảm bảo quyền công dân đƣợc thực thi trên thực tế.
- Chủ thể mang quyền lực do Hiến pháp xác lập ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái với quy định của Hiến pháp xâm phạm tính tối cao của Hiến pháp và suy cho đến cùng là xâm phạm quyền, lợi ích của công dân. Có thể khái quát ba lĩnh vực có thể xuất hiện dấu hiệu vi phạm Hiến pháp nhƣ sau: Trong hoạt động lập pháp : luâ ̣t, nghị quyết của Quốc hội , pháp lệnh , nghị quyết của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội đƣơ ̣c ban hành không phù hơ ̣p với quy đinh ̣ của Hiến pháp .