phần Mở đầu và Kết luận, luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3 Thực trạng cơ cấu vốn tại các công ty xây dựng niêm yết ở Việt Nam Chƣơng 4 Giải pháp hoạch định cơ cấu vốn tối ƣu cho các công ty xây dựng niêm yết tại Việt Nam. 4 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm vốn và các nguồn hình thành vốn kinh doanh 1.1 Khái niệm về vốn kinh doanh Trong cuốn Từ điển kinh tế hiện đại có giải thích: "Capital - tƣ bản/vốn: một từ dùng để chỉ một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra. Hàng hoá tƣ liệu vốn là hàng hoá đƣợc sản xuất để sử dụng nhƣ yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sau. Vì vậy, tƣ bản này có thể phân biệt đƣợc với đất đai và sức lao động, những thứ không đƣợc coi là do hệ thống kinh tế tạo ra.
Do bản chất không đồng nhất của nó mà sự đo lƣờng tƣ bản trở thành nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cãi trong lý thuyết kinh tế." (Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội, 1999, Tr. 129) Cũng có nhiều quan niệm cho rằng vốn có nghĩa là nguồn lực cho sản xuất. Muốn tiến hành sản xuất và tái sản xuất cần chi phí về đất đai; tài chính và lao động. Ngƣời ta cũng có thể nói: "Lao động là vốn quý".
Tuy nhiên, theo tác giả, không nên coi toàn bộ lao động là vốn: sức lao động chỉ trở thành vốn khi nó đƣợc sử dụng để sản xuất ra các yếu tố đầu vào cho quá trình tái sản xuất. Nhƣ vậy, có thể hiểu: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các nguồn lực, tài sản hữu hình và vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Đặc trƣng của vốn kinh doanh Với khái niệm nhƣ trên về vốn kinh doanh, có thể thấy vốn kinh doanh của doanh nghiệp có những đặc trƣng sau: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt, vì nó nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh (tức là nhằm mục đích tích lũy); Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có trƣớc khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh; 5 z Vốn kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt tới mục tiêu sinh lời và luôn thay đổi hình thái biểu hiện, nó vừa tồn tại dƣới hình thái vật tƣ hoặc tài sản vô hình, nhƣng kết thúc vòng tuần hoàn phải là hình thái tiền.2 Các nguồn hình thành vốn Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phƣơng thức huy động vốn khác nhau. Dƣới đây là các nguồn vốn và các phƣơng thức huy động vốn cơ bản mà các doanh nghiệp có thể sử dụng.1 Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu: - Vốn góp ban đầu - Lợi nhuận không chia - Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới.
Vốn góp ban đầu Khi doanh nghiệp đƣợc thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông - chủ sở hữu góp. Khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp. Chẳng hạn, đối với công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ nắm giữ.
Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng có một số dạng tƣơng đối khác nhau, do đó cách thức huy động vốn cổ phần cũng khác nhau. Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia Quy mô số vốn ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng, tuy nhiên, thông thƣờng, số vốn này cần đƣợc tăng theo quy mô phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng trƣởng 6 z nguồn vốn. Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận đƣợc sử dụng tái đầu tƣ, mở rộng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia - nguồn vốn nội bộ là một phƣơng thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm đƣợc chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài. Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tƣ từ lợi nhuận để lại, họ đặt ra mục tiêu phải có một khối lƣợng lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng. Phát hành cổ phiếu Trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng là phát hành cổ phiếu để huy động vốn cho doanh nghiệp.
Phát hành cổ phiếu đƣợc gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp. Có nhiều loại cổ phiếu khác nhau: Cổ phiếu thường (Common Stock/Share) Cổ phiếu thƣờng là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì nó có những ƣu thế trong việc phát hành ra công chúng và trong quá trình lƣu hành trên thị trƣờng chứng khoán. Cổ phiếu thƣờng là chứng khoán quan trọng nhất đƣợc trao đổi, mua bán trên thị trƣờng chứng khoán, điều đó cũng đủ để minh chứng tầm quan trọng của nó so với các công cụ tài chính khác. Cổ phiếu ưu tiên (Preferred Stock) Cổ phiếu ƣu tiên thƣờng chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu đƣợc phát hành.
Tuy nhiên trong một số trƣờng hợp, việc dùng cổ phiếu ƣu tiên là thích hợp. Cổ phiếu ƣu tiên có đặc điểm là nó thƣờng có cổ tức cố định. Ngƣời chủ của cổ phiếu này có quyền đƣợc thanh toán lãi trƣớc các cổ đông thƣờng. Nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ƣu tiên thì các cổ đông thƣờng sẽ không đƣợc nhận cổ tức của kỳ đó.
Việc giải quyết chính sách cổ tức đƣợc nêu rõ trong điều lệ công ty.2 Nợ và các phương thức huy động nợ của doanh nghiệp Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp có thể sử dụng nợ từ các nguồn: 7 z - Tín dụng ngân hàng - Tín dụng thƣơng mại - Phát hành trái phiếu Nguồn vốn tín dụng ngân hàng Có thể nói rằng vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thƣơng mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn. Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ƣu điểm, nhƣng nguồn vốn này cũng có những hạn chế nhất định. Đó là các hạn chế về điều kiện tín dụng, kiểm soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn (lãi suất).
Điều kiện tín dụng: các doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng thƣơng mại cần đáp ứng đƣợc những yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng. Các điều kiện bảo đảm tiền vay: khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung các ngân hàng thƣờng yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có các bảo đảm tiền vay, phổ biến nhất là tài sản thế chấp. Doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Sự kiểm soát của ngân hàng: một khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp cũng phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay.
Lãi suất vay vốn: lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn. Lãi suất vốn vay ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trƣờng trong từng thời kỳ. Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng vốn lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp. Nguồn vốn tín dụng thƣơng mại Các doanh nghiệp cũng thƣờng khai thác nguồn vốn tín dụng thƣơng mại (commercial credit) hay còn gọi là tín dụng của ngƣời cung cấp (suppliers' credit).
Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán chịu, mua bán 8 z trả chậm hay trả góp. Nguồn vốn tín dụng thƣơng mại có ảnh hƣởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế. Đối với doanh nghiệp, tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thƣơng mại là một phƣơng thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh; hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền. Các điều kiện ràng buộc cụ thể có thể đƣợc ấn định khi hai bên ký hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói chung.
Tuy nhiên, cần nhận thấy tính chất rủi ro của quan hệ tín dụng thƣơng mại khi quy mô tài trợ quá lớn. Chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn tín dụng thể hịên qua lãi suất của khoản vay, đó là chi phí lãi vay. Khi mua bán hàng hoá trả chậm, chi phí này có thể "ẩn" dƣới hình thức thay đổi mức giá, tuỳ thuộc quan hệ và thoả thuận cụ thể giữa các bên. Trong xu hƣớng hiện nay ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới, các hình thức tín dụng ngày càng đƣợc đa dạng hoá và linh hoạt hơn, với tính chất cạnh tranh hơn; do đó các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp.
Phát hành trái phiếu công ty Trái phiếu là một tên chung của các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn. Một trong những vấn đề cần xem xét trƣớc khi phát hành là lựa chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tình hình trên thị trƣờng tài chính. Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lƣu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu.