mở đầu lí thuyết về trường nghĩa là J. Lí thuyết này bắt nguồn từ những tư tưởng về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ trong ngôn ngữ của W. Theo quan niệm của J. Trier và những người kế tục ông, mặt nghĩa của ngôn ngữ là một kết cấu chặt chẽ, được phân chia ra thành những trường hoặc những phạm vi khái niệm một cách rõ ràng.
Một từ chỉ có ý nghĩa khi nằm ở trong trường nhờ những mối quan hệ của nó với các từ khác cũng thuộc trường ấy. Trong hệ thống, tất cả chỉ nhận được ý nghĩa qua cái toàn thể. Có nghĩa là từ của ngôn ngữ nào đó không phải là đại diện tách biệt của ý nghĩa, ngược lại, mỗi một từ có ý nghĩa chỉ là vì có các từ khác liên hệ trực tiếp với nó. Khuynh hướng thứ hai xây dựng lý thuyết trường nghĩa trên cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học.
Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa. Ipsen căn cứ vào hình thái và chức năng của từ để xây dựng trường nghĩa. Trường nghĩa theo quan niệm của Ipsen gồm những từ họ hàng với nhau về ý nghĩa và hình thức. Konradt – Hicking lại xây dựng trường nghĩa căn cứ vào các từ ghép trong đó từ rời với tư cách thành tố của tù ghép đóng vai trò thành viên của trường.
Theo ông, trong phạm vi một trường từ vựng duy nhất, tức là 10 trong các từ ghép, chỉ có thể tập hợp các từ thuộc cùng một phạm vi biểu tượng. Muller và Porzig xây dựng trường nghĩa căn cứ vào các ý nghĩa ngữ pháp của các quan hệ. Họ cho rằng ý nghĩa của các từ lệ thuộc vào những liên hệ cú pháp. Do đó theo quan điểm của học thì trường nghĩa là những quan hệ đơn giản gồm động từ hành động và danh từ chủ thể hành động hay danh từ bổ ngữ, tính từ và danh từ… Sau đó các nhà nghiên cứu khác như G.
và đặc biệt J.Trier (1934) được coi là người đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học. Trong Sách giáo khoa Ngữ Văn 8, Tập 1, chúng ta đã được học qua về khái niệm “Trường từ vựng”. Tiêu chuẩn để thống nhất các từ thành trường từ vựng có thể dựa vào sự tồn tại của các từ khái quát, biểu thị các khái niệm ở dạng chung nhất, trừu tượng nhất, trung hòa. Từ này được dùng như một cái máy để đo đạc và phát hiện ý nghĩa phạm trù chung, trên cơ sở đó tập hợp các thành phần còn lại của trường.
Theo cách này, khi tập hợp các từ vào một trường, người nghiên cứu không những chỉ dựa vào sự hiểu biết của mình mà còn có thể dựa vào trực giác tập thể của những người biên soạn từ điển. Đặc biệt người ta cũng coi là trường nghĩa cả những kết cấu ngữ nghĩa của các từ đa nghĩa. Giữa các nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa thường có một yếu tố ngữ nghĩa chung, tạo nên cái gọi là trục ngữ nghĩa. Toàn bộ các nghĩa khác nhâu của một từ tạo ra một trường nghĩa nhỏ nhất.
Tuy nhiên, lý thuyết trường nghĩa này lại xuất phát từ những tư tưởng của F. Saussure về tính cấu trúc của ngôn ngữ đặc biệt là về quan hệ liên tưởng và quan hệ ngữ đoạn trong ngôn ngữ. Chính ông đã phát hiện ra “Hầu hết các đơn vị của ngôn ngữ đều dựa vào những cái bao quanh nó” [18, tr. Và “Cái toàn thể có giá trị là do cái bộ phận của nó và cái bộ phận cũng có giá trị cũng lại nhờ vị trí của nó trong toàn thể.
Mỗi đơn vị có thể ví như một cái cột trong một ngôi nhà” [18, tr. Vào những năm 80 của thế kỉ XX, lý thuyết này bắt đầu được giới thiệu vào Việt Nam mà người khởi đầu là GS. Trên cơ sở tiếp 11 thu các thành tựu của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra những quan điểm về khái niệm trường nghĩa. Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa” [19, tr.
Có thể nói cách hiểu này đã khái quát được nét chung nhất tiêu biểu về đặc điểm của trường nghĩa. Đây cũng chính là khái niệm chính mà luận văn sẽ lựa chọn để làm tiêu chí triển khai nghiên cứu đề tài. Phân loại trường nghĩa Để chỉ ra tính hệ thống của ngôn ngữ, F. De Sausure trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra hai mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị đồng loại của ngôn ngữ, đó là – quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình).
Cũng theo hai mối quan hệ này, trường từ vựng ngữ nghĩa được phân loại thành các trường từ vựng ngữ nghĩa theo quan hệ ngang (trường tuyến tính) và trường từ vựng – ngữ nghĩa theo quan hệ dọc (trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm). Bên cạnh hai loại trường nghĩa cơ bản như vậy, trong ngôn ngữ còn tồn tại một trường nghĩa khá đặc sắc – đó là trường liên tưởng. Sau đây là một số điểm chính về các loại trường nghĩa này [21, tr. Trường nghĩa tuyến tính Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ.
Các từ trong một tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các ngôn bản. Khi đi phân tích ý nghĩa của chúng có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó [21, tr. Ví dụ, chọn từ “vườn” làm gốc, dựa theo quan hệ tuyến tính ta sẽ có những nhóm nhỏ chẳng hạn nhóm tên gọi cụ thể gắn với những thành phần của khu vườn bao gồm “vườn dâu”, “vườn hồng”, “vườn đào”, “vườn cây”; nhóm tên gọi cụ thể 12 gắn với chủ thể của “vườn”: “vườn ai”, “vườn tôi”, “vườn nhà”, “vườn anh”; nhóm tên gọi cụ thể gắn với đặc điểm của “vườn”: “vườn hoang”, “vườn tiên”, “vườn trần”… 1. Trường nghĩa dọc 1.
Trường nghĩa biểu vật Trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật. Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa các nghĩa biểu vật của các từ về trường biểu vật thích hợp chúng ta chọn các danh từ làm gốc. Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật như người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu… Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật cho nên một từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau. Các trường nghĩa khác nhau sẽ có số lượng đơn vị khác nhau.
Các từ ngữ đồng nhất với nhau về nghĩa nhiều hơn trong một trường nghĩa tạo thành một tiểu trường nghĩa. Mỗi một trường nghĩa có những từ ngữ trung tâm, đặc trưng cho trường nghĩa đó. Trong mỗi trường nghĩa lớn lại có các trường nghĩa nhỏ hơn. Một từ không chỉ có một nghĩa biều vật mà thường có nhiều nghĩa biểu vật khác nhau.
Ví dụ, phân tích các nghĩa biểu vật của từ " mũi", ta sẽ có sự phân xuất như sau: Mũi: - bộ phận nhô lên ở giữa mặt người và động vật có xương sống, là cơ quan dùng để thở và ngửi. - bộ phận nhọn, nhô ra phía trước của một số vật dùng vận tải trên nước như tàu, thuyền (mũi tàu, mũi thuyền). - bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước của một số vật thường dùng hàng ngày: mũi kim, mũi kéo, mũi dao… - bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước của một số loại vũ khí: mũi tên, mũi giáo, mũi mác, mũi kiếm, mũi súng… - doi đất nhọn nhô ra khỏi bờ trên sông, trên biển: mũi Né ( Bình Thuận), mũi Cà Mau… 13 Khi phân lập các trường, cần chú ý đến nghĩa biểu vật chứ không chú ý đến một từ đã ở trường này thì không thể ở trường kia được nữa. Vì từ có nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật chính và ý nghĩa biểu vật phụ, cho nên chúng ta có thể phân biệt các trường biểu vật chính và trường biêu vật phụ của từ.
Nếu nghĩa chính của từ nằm trong trường nào thì trường đó là trường biểu vật chính của nó. Các trường biểu vật có thể thẩm thấu vào nhau giao thoa với nhau. Hai trường biểu vật giao thoa với nhau khi một số từ của trường này cũng nằm trong trường kia. Căn cứ vào số lượng các từ chung cho hai trường nhiều hay ít mà chúng ta nói đến tính độc lập, tương đối nhiều hay ít giữa hai trường.
Trường nghĩa biểu niệm Trường biểu niệm chính là tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm. Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ và cũng có các miền với mật độ khác nhau. Các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau, thẩm thấu vào nhau và cũng có lõi trung tâm với các từ điển hình cà những từ ở những lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi. Để xác lập trường biểu niệm, ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm gốc đó.
Khi phân lập các trường biểu niệm, chúng ta dựa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân nhỏ chúng ra phải sử dụng đến nét nghĩa biêu vật. Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được các trường. Nhưng, cũng chính nhờ vào các trường, nhờ sự định vị được từng từ một trong trường thích hợp mà chúng ta hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ. Chẳng hạn, phân tích nghĩa biểu niệm của từ "che", ta sẽ thấy có một sự tiến lên về quá trình nhận thức như sau: "Che": - Làm cho người khác không nhìn thấy.
Ví dụ: Che ngực, che mặt… - Làm cho không bị tác động từ bên ngoài. Ví dụ: Che nắng, che mưa… 14 - Bưng bít không cho người khác nhận ra khuyết điểm 1. Trường liên tưởng Nhà ngôn ngữ học Pháp Ch. Bally là tác giả đầu tiên của khái niệm trường liên tưởng.
Theo ông, mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng.