Tài liệu: Chuyên ngành chính sách công thực thi chính sách phát triển

Tài liệu Chuyên ngành chính sách công thực thi chính sách phát triển thanh niên tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và vai trò của Chính sách Công thực thi

Chính sách công thực thi là một lĩnh vực quan trọng trong nền hành chính hiện đại, tập trung vào việc chuyển đổi các quyết định chính sách thành những hành động cụ thể và kết quả thực tế. Theo luận văn thạc sĩ chuyên ngành chính sách công của Bùi Thị Ngọc Anh, thực thi chính sách phát triển thanh niên đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương. Vai trò của thực thi chính sách công không chỉ giới hạn ở việc thực hiện kế hoạch, mà còn đảm bảo rằng những mục tiêu chính sách được đạt thành công, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của cộng đồng.

1.1. Định nghĩa chính sách công thực thi

Thực thi chính sách công là quá trình chuyển đổi các quyết định chính sách thành những chương trình, dự án, hoạt động cụ thể. Đây là giai đoạn quan trọng kết nối giữa công thức hóa chính sáchđánh giá kết quả. Theo các chuyên gia, thực thi chính sách bao gồm việc phân bổ nguồn lực, điều phối các bên liên quan, và theo dõi tiến độ thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra.

1.2. Ý nghĩa của thực thi trong phát triển thanh niên

Thực thi chính sách phát triển thanh niên đóng vai trò then chốt trong việc tạo cơ hội việc làm, phát triển kỹ năng và thúc đẩy tham gia xã hội của lực lượng thanh niên. Tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, việc thực thi hiệu quả các chính sách này đã tạo ra những kết quả tích cực trong giai đoạn 2018-2021, góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.

II. Cơ sở lý luận và khung pháp lý thực thi chính sách

Cơ sở lý luận của chính sách công thực thi xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của việc chuyển đổi ý tưởng thành hành động. Theo Quyết định số 1501/QĐ-TTg ngày 11/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ, các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chính sách liên quan đến đời sống, học tập, việc làm của thanh niên. Khung pháp lý thực thi chính sách công bao gồm các quy định từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Học viện Chính sách và Phát triển, cung cấp hướng dẫn chi tiết về các bước, phương pháp, và tiêu chí đánh giá để đảm bảo thực thi chính sách hiệu quả và toàn diện.

2.1. Các yếu tố khách quan tác động đến thực thi

Các yếu tố khách quan bao gồm điều kiện kinh tế-xã hội, tài nguyên sẵn có, cơ sở hạ tầng và những ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài. Thực trạng thực thi chính sách phát triển thanh niênquận Hải Châu chịu tác động từ các yếu tố này, từ đó ảnh hưởng đến hiệu suất của chương trình triển khai.

2.2. Yếu tố chủ quan trong quá trình thực thi

Yếu tố chủ quan liên quan đến ý thức, kỹ năng quản lý, sự cam kết của các bên liên quan trong thực thi chính sách công. Sự hợp tác tốt giữa UBND, Đoàn Thanh niên Cộng sản, và các tổ chức xã hội là nền tảng để đạt được những kết quả đạt được trong phát triển thanh niên.

III. Thực trạng và kết quả thực thi tại Quận Hải Châu

Thực trạng thực thi chính sách phát triển thanh niên tại Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng cho thấy những tiến bộ đáng kể trong giai đoạn 2018-2021. Các chính sách hỗ trợ phát triển thanh niên đã được triển khai thông qua nhiều hình thức khác nhau, từ phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) đến các chương trình tạo việc làm. Những kết quả đạt được bao gồm tăng số lượng thanh niên tham gia đoàn thể, cải thiện tỷ lệ việc làm và nâng cao nhận thức pháp luật. Tuy nhiên, những hạn chế cũng tồn tại, liên quan đến sự phối hợp giữa các bộ phận và nguồn lực thực thi chính sách còn hạn chế.

3.1. Các chính sách phát triển thanh niên được triển khai

Bảng thống kê các chính sách hỗ trợ, phát triển thanh niênquận Hải Châu cho thấy đa dạng hóa các giải pháp, từ hỗ trợ vốn vay đến đào tạo kỹ năng. Nội dung chính sách phát triển thanh niên bao gồm hỗ trợ khởi nghiệp, phát triển kỹ năng, nâng cao sức khỏe cộng đồng, và tạo cơ hội tham gia vào quá trình tổ chức thực thi chính sách.

3.2. Đánh giá những hạn chế và nguyên nhân

Những hạn chế trong thực thi chính sách công tại quận Hải Châu bao gồm sự phối hợp tốt nguồn lực chưa đủ, việc triển khai chính sách phát triển thanh niên gặp khó khăn do thiếu nhân lực, và giám sát quá trình tổ chức thực thi chính sách còn yếu. Nguyên nhân chính xuất phát từ khả năng tài chính hạn chế và sự thông tin chưa kịp thời.

IV. Giải pháp tăng cường thực thi chính sách phát triển thanh niên

Để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách phát triển thanh niên tại Quận Hải Châu, cần triển khai các giải pháp hoàn thiện một cách toàn diện và bài bản. Xây dựng kế hoạch thực thi phù hợp thực tiễn đòi hỏi phải lấy dữ liệu thực tế làm cơ sở, qua đó đảm bảo thực hiện triển khai chính sách đạt hiệu quả cao. Đồng thời, tăng cường giám sát quá trình tổ chức thực thi chính sáchphối hợp tốt nguồn lực thực thi chính sách là những yếu tố then chốt. Các kiến nghị đảm bảo thực thi chính sách công cần được gửi tới UBND Quận Hải ChâuUBND thành phố Đà Nẵng để tạo hành lang pháp lý và tài chính vững chắc.

4.1. Các phương hướng và quan điểm cơ bản

Quan điểm của đảng, nhà nước về công tác phát triển thanh niên nhấn mạnh vai trò then chốt của thanh niên trong phát triển đất nước. Phương hướng phát triển thanh niên quận Hải Châu cần tập trung vào thực thi chính sách phát triển thanh niên một cách toàn diện, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo cơ hội phát triển cho lực lượng thanh niên.

4.2. Kiến nghị và biện pháp hành động

Kiến nghị với UBND Quận Hải Châu bao gồm tăng bố trí ngân sách, cải thiện cơ sở hạ tầng, và xây dựng kế hoạch thực thi rõ ràng. Kiến nghị với UBND thành phố Đà Nẵng tập trung vào việc giám sát quá trình tổ chức thực thi chính sách công và hỗ trợ phối hợp tốt nguồn lực giữa các sở, ngành để thực hiện triển khai chính sách phát triển thanh niên hiệu quả.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THANH NIÊN 1. Khái quát chung về thanh niên và chính sách phát triển thanh niên 1. Khái niệm và lịch sử hình thành đoàn thanh niên tại Việt Nam a. Khái niệm “Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện.

Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [1]. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực lượng xung kích cách mạng, là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của tuổi trẻ; phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; là lực lượng nòng cốt chính trị trong phong trào thanh niên và trong các tổ chức thanh niên Việt Nam. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đoàn kết, phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng với các tổ chức thanh niên tiến bộ, thanh niên và nhân dân các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì tương lai và hạnh phúc của tuổi trẻ.

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Hệ thống tổ chức của Đoàn gồm 4 cấp: cấp Trung ương; cấp tỉnh; cấp huyện; cấp cơ sở (gồm Đoàn cơ sở và chi đoàn cơ sở). Lịch sử hình thành đoàn thanh niên tại Việt Nam Mùa xuân năm 1931, từ ngày 20 đến ngày 26/3, tại Hội nghị Ban chấp hành 10 Trung ương Đảng lần thứ 2, Trung ương Đảng đã giành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên và đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt, như các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn. Trước sự phát triển lớn mạnh của Đoàn trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, ở nước ta xuất hiện nhiều tổ chức Đoàn cơ sở với khoảng 1.500 đoàn viên và một số địa phương đã hình thành tổ chức Đoàn từ xã, huyện đến cơ sở.

Sự phát triển lớn mạnh của Đoàn đã đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp bách của phong trào thanh niên nước ta. Đó là sự vận động khách quan phù hợp với cách mạng nước ta; đồng thời, phản ánh công lao trời biển của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng kính yêu - Người đã sáng lập và rèn luyện tổ chức Đoàn. Được Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Trung ương Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội toàn quốc lần thứ 3 họp từ ngày 22 - 25/3/1961 đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 (một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2, dành để bàn bạc và quyết định những vấn đề rất quan trọng đối với công tác thanh niên) làm ngày thành lập Đoàn hàng năm. Ngày 26/3 trở thành ngày vẻ vang của tuổi trẻ Việt Nam, của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh quang vinh.

Những thế hệ thanh niên kế tiếp nhau đã chiến đấu anh dũng vì độc lập tự do của Tổ Quốc, vì chủ nghĩa xã hội đã liên tiếp lập nên những chiến công xuất sắc và trưởng thành vượt bậc. Vai trò của lưc lượng thanh niên Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao vị trí, vai trò của thanh niên, xác định thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, luôn phát huy vai trò thanh niên trong đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV nêu rõ: “Tiền đồ rạng rỡ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nằm trong tay thanh niên, thiếu niên và nhi đồng”. Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sự nghiệp đổi mới có thành 11 công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) nhấn mạnh: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chính sách bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước”.

Chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên thành lớp người “vừa hồng vừa chuyên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quan trọng của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, gia đình, nhà trường và xã hội. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII đã xác định sáu nhiệm vụ trọng tâm, trong đó: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế”6 là một nội dung quan trọng. Theo thống kê năm 2019, thanh niên Việt Nam từ 16 – 30 tuổi có khoảng 22,898 triệu người chiếm khoảng 23,8% dân số cả nước7. Năm 2020, thanh niên Việt Nam từ 16 – 30 tuổi có khoảng 22,609 triệu người chiếm khoảng 23,2% dân số cả nước.

Mặc dù tỷ lệ thanh niên Việt Nam trong tổng số dân cả nước và trong lực lượng lao động xã hội từ năm 2010 có xu hướng giảm nhẹ, nhưng thanh niên vẫn là lực lượng đông đảo, chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo. Muốn khơi dậy trong thanh niên khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế. Khái niệm chính sách phát triển thanh niên “Chính sách phát triển thanh niên là chính sách công, là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng thanh niên nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định hoặc giải quyết những vấn đề nhất định. Vì vậy, việc xác định rõ ràng mục tiêu và những vấn đề cần giải quyết là rất quan trọng để các chính sách dành cho thanh niên thực sự đạt được hiệu quả.

Hiện nay, những vấn đề lớn trong phát triển chất lượng nguồn nhân lực thanh niên nằm ở các chính sách về: Giáo dục; việc làm và cơ hội; sức khỏe; sự tham gia quản lý nhà nước và xã hội”[13] Trong đó, chính sách được thanh niên quan tâm nhất là giáo dục. Điều này cũng xuất phát từ cơ sở thực tiễn là thực trạng trình độ học vấn của thanh niên Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ với chất lượng lực lượng lao động. Trình độ học vấn là nền tảng cơ bản để mỗi cá nhân có thể tiếp tục nỗ lực phát triển kỹ năng, sự sáng tạo và khả năng đáp ứng yêu cầu của các ngành nghề. Tìm được cơ hội làm việc phù hợp sẽ giúp thay đổi hoàn toàn cuộc sống cá nhân của thanh niên cũng như góp phần tạo những chuyển đổi tích cực trong xã hội.

Mục tiêu chính sách Mục tiêu của chính sách nhằm xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, có ý chí tự cường, tự hào dân tộc; có lý tưởng cách mạng, hoài bão, khát vọng vươn lên xây dựng đất nước; có đạo đức, ý thức công dân, chấp hành pháp luật; có văn hóa, kiến thức, trình độ học vấn, kỹ năng sống, nghề nghiệp và việc làm; có ý chí lập thân, lập nghiệp, năng động, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ. Phát triển nguồn nhân lực trẻ chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước và hội nhập quốc tế. Phát huy tinh thần cống hiến, xung kích, tình nguyện và nâng cao trách nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính sách đặt ra các mục tiêu cụ thể trong giai đoạn mới hiện nay, bao gồm: Mục tiêu thứ nhất là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; cung cấp thông tin về tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho thanh niên,tập trung bồi dưỡng tuyên truyền, 13 phổ biến, học tập nghị quyết của các cấp ủy Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lực lượng vũ trang, thanh niên là cán bộ, công chức, viên chức, trang bị kiến thức về quốc phòng và an ninh cho thanh niên nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đẩy mạnh việc cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật thông qua các ứng dụng pháp luật trực tuyến, mạng xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng.

Mục tiêu thứ hai là giáo dục, nâng cao kiến thức, kỹ năng; tạo điều kiện để thanh niên bình đẳng về cơ hội học tập, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kiến thức pháp luật, kỹ năng sống và kỹ năng mềm. Mục tiêu thứ ba là nâng cao chất lượng đào tạo nghề và tạo việc làm bền vững cho thanh niên; phát triển nguồn nhân lực trẻ chất lượng cao. Giáo dục hướng nghiệp, trang bị kiến thức, kỹ năng về khởi nghiệp, được trang bị kiến thức về hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ