Tài liệu Kỹ thuật: Chuyên ngành chính sách công thực hiện chính sách xây

Chuyên khảo Chuyên ngành chính sách công thực hiện chính sách xây dựng nông thôn m phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực xây

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

114
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Tiêu chí Xây dựng Nông thôn Mới

Chính sách xây dựng nông thôn mới là một trong những chính sách quan trọng nhằm phát triển bền vững các khu vực nông thôn. Nông thôn mới không chỉ là sự thay đổi về cơ sở hạ tầng mà còn là sự phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường. Các tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới trong giai đoạn 2016-2020 được xác định để đánh giá mức độ phát triển của các xã. Những tiêu chí này bao gồm cơ sở hạ tầng, công tác giáo dục, y tế, an ninh trật tự, và phát triển kinh tế cộng đồng. Việc hiểu rõ khái niệm và tiêu chí là nền tảng cho việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới hiệu quả, đảm bảo mục tiêu phát triển được đạt kết quả cao nhất.

1.1. Khái niệm Xây dựng Nông thôn Mới

Xây dựng nông thôn mới là quá trình nâng cấp toàn diện các vùng nông thôn, từ cơ sở hạ tầng giao thông, điện nước đến các dịch vụ công cộng. Đây là một chính sách công nhằm giảm khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, và tạo cơ hội phát triển kinh tế. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp giữa các cấp chính quyền, cộng đồng địa phương, và các đơn vị liên quan.

1.2. Tiêu chí Quốc gia về Xã Nông thôn Mới

Tiêu chí quốc gia gồm 19 tiêu chí cụ thể, được chia thành các lĩnh vực: hạ tầng giao thông, cấp nước sạch, điện lực, giáo dục, y tế, văn hóa, an ninh trật tự, và phát triển kinh tế. Mỗi tiêu chí có những chỉ tiêu cụ thể cần đạt được để xã được công nhân là nông thôn mới. Đây là cơ sở để đánh giá kết quả thực hiện chính sách và định hướng phát triển bền vững.

II. Vai trò của Chính sách Xây dựng Nông thôn Mới

Chính sách xây dựng nông thôn mới đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững của đất nước. Nó không chỉ giải quyết các vấn đề cơ bản về hạ tầng mà còn tạo động lực cho sự phát triển toàn diện của cộng đồng nông thôn. Thông qua thực hiện chính sách, các vùng nông thôn được trang bị những công trình, dịch vụ cơ bản, giúp nâng cao đời sống của nhân dân. Vai trò của chính sách này còn thể hiện qua việc giảm thiểu khoảng cách phát triển giữa các vùng, tạo thích hợp cho nhân dân phát triển sản xuất, tăng thu nhập, và góp phần vào sự ổn định xã hội. Các nhân tố tác động đến thực hiện chính sách bao gồm sự hỗ trợ của chính phủ, sự tham gia của cộng đồng, và các điều kiện kinh tế-xã hội địa phương.

2.1. Tầm quan trọng trong Phát triển Kinh tế Xã hội

Chính sách nông thôn mới giúp nâng cao thu nhập cho nông dân thông qua việc hỗ trợ phát triển sản xuất, cải thiện kỹ năng lao động, và kết nối thị trường. Cơ sở hạ tầng tốt hơn cho phép nông dân tiếp cận công nghệ, vật tư nông nghiệp, và thị trường tiêu thụ dễ dàng. Điều này góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân nông thôn.

2.2. Giảm khoảng cách Phát triển giữa Vùng

Thông qua thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới, các vùng nông thôn thuộc địa bàn huyện Mường Tè và các địa phương khác được nhận các khoản đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng. Điều này giúp giảm bất bình đẳng, tạo cơ hội phát triển công bằng cho tất cả mọi người trong cả nước.

III. Quá trình và Chủ thể Thực hiện Chính sách

Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể thực hiện ở các cấp độ khác nhau. Quy trình thực hiện bắt đầu từ khâu lập kế hoạch, xác định mục tiêu, động viên nguồn lực, triển khai các hoạt động, cho đến khâu đánh giá, kiểm tra, giám sát. Các chủ thể thực hiện chính sách bao gồm chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, các sở ngành, và quan trọng nhất là cộng đồng dân cư. Vai trò của chính sách công được thể hiện rõ qua việc huy động nguồn lực công cộng và xây dựng những giải pháp nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Sự thành công của thực hiện chính sách phụ thuộc vào mức độ cam kết, năng lực tổ chức, và sự tham gia của toàn bộ xã hội.

3.1. Các Chủ thể Chính trong Thực hiện Chính sách

Chủ thể thực hiện chính sách chính sách xây dựng nông thôn mới bao gồm: chính phủ trung ương, các bộ ngành liên quan, chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã), các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, và cộng đồng địa phương. Mỗi chủ thể có vai trò, trách nhiệm riêng trong quá trình thực hiện, từ lập chính sách, cấp kinh phí, đến triển khai thực hiện và kiểm tra giám sát.

3.2. Quy trình và Các nhân tố Ảnh hưởng

Quy trình thực hiện được chia thành các giai đoạn: chuẩn bị, phát động, triển khai, và kiểm tra đánh giá. Các nhân tố tác động bao gồm chính sách tài chính, năng lực cán bộ, sự hỗ trợ từ cộng đồng, và các điều kiện tự nhiên-xã hội. Sự thành công của thực hiện chính sách tùy thuộc vào cách các nhân tố này được quản lý và phát huy.

IV. Trường hợp Thực tiễn Huyện Mường Tè Tỉnh Lai Châu

Huyện Mường Tè là một điển hình về thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở vùng miền núi phía Bắc. Với địa bàn huyện Mường Tè có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, việc thực hiện chính sách nông thôn mới được xem là một nhiệm vụ quan trọng. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành chính sách công của tác giả Đặng Thế Hùng từ Học viện Chính sách và Phát triển Dặng Thế Hùng đã phân tích chi tiết kết quả thực hiện chính sách tại huyện này. Thực trạng thực hiện cho thấy những thành tựu đáng kể trong phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội, nhưng cũng tồn tại những hạn chế cần khắc phục. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện được đề xuất dựa trên bài học kinh nghiệm từ việc thực tiễn ở huyện.

4.1. Thực trạng và Kết quả Đạt được

Tại huyện Mường Tè, việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới đã mang lại những kết quả khá tích cực. Phát triển hạ tầng giao thông, cấp nước sạch, điện lực đã được cải thiện đáng kể. Kết quả về phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho nông dân cũng thể hiện sự tiến bộ, đặc biệt là trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phát triển các sản phẩm nông sản chất lượng cao.

4.2. Giải pháp và Định hướng Phát triển

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, giải pháp nhằm tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, và huy động nguồn lực được đề xuất. Định hướng thực hiện giai đoạn 2021-2025 tập trung vào phát triển bền vững, tái cơ cấu nông nghiệp, và nâng cao thu nhập bền vững cho nhân dân.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Khái niệm, tiêu chí về xây dựng nông thôn mới 1. Khái niệm về xây dựng nông thôn mới 1. Nông thôn Có nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về nông thôn do cách tiếp cận, trong phạm vi không gian và thời gian khác nhau.

Đến nay chưa có một định nghĩa chính xác về nông thôn; và để hiểu về nông thôn, người ta thường so sánh nông thôn với thành thị với các chỉ tiêu về tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, trình độ phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển sản xuất hàng hóa, tiếp cận thị trường, cơ cấu kinh tế vùng, trình độ dân trí, cơ hội việc làm. Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân (UBND) xã [3]. Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách, tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Đặc điểm các vùng nông thôn nước ta gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với tuyệt đại đa số dân cư sinh sống bằng một loại hình lao động, bởi vậy diện mạo các vùng nông thôn rất ít có sự thay đổi nhất là về phương diện kinh tế - xã hội.

Qua phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học thì khái niệm về nông thôn mới được hiểu như sau: “Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn”. 6 Nông thôn là khu vực khác với thành thị về không gian, hoạt động kinh tế, đặc điểm cộng đồng và sinh thái. Nông thôn gắn liền với đời sống, tập tục và bản sắc văn hoá của một cộng đồng. Về phương diện kinh tế, nông thôn bao gồm cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, văn hoá, tài nguyên thiên nhiên, tổ chức và thể chế, công nghiệp và hạ tầng cơ sở.

Vì thế phát triển nông thôn phải bao gồm phát triển cả kinh tế, xã hội, tổ chức và môi trường [15]. Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Nước ta là nước nông nghiệp, vì vậy nông thôn có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng: là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống người dân; cung cấp nguyên liệu, hàng hóa cho công nghiệp, xuất khẩu; cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị; cũng là thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp, dịch vụ và tạo điều kiện ổn định về mặt kinh tế - chính trị - xã hội. Giai đoạn trước năm 1945, nông nghiệp nước ta nghèo nàn và lạc hậu cả về cơ sở vật chất và kỹ thuật, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và sức lao động thủ công là chính: cả nước chỉ có 12 công trình thuỷ nông nhỏ, đảm bảo tưới cho 15% diện tích canh tác, không có công trình tiêu úng nên lũ lụt thường xuyên xảy ra, bình quân 2 năm 1 lần vỡ đê.

Nông nghiệp chủ yếu là quảng canh, năng suất cây trồng, vật nuôi rất thấp, ruộng đất phần lớn tập trung trong tay giai cấp địa chủ phong kiến và thực dân Pháp; ở nông thôn có tới 59,2% số hộ không có ruộng đất, phải sống bằng cày thuê, cấy rẽ, phải sống trong cảnh nô lệ, đói nghèo về vật chất và tinh thần. Giai đoạn sau năm 1945, với những chính sách về cải cách ruộng đất, giảm tô, giảm tức của Đảng và Nhà nước, sản xuất nông nghiệp từng bước được khôi phục và phát triển, sản lượng lương thực năm 1954 đạt gần 3 triệu tấn, tăng 13,7% so với năm 1946, tốc độ tăng giá trị sản lượng nông nghiệp ở miền Bắc trong 9 năm kháng chiến đạt 10%/năm, 810.000 ha đất nông nghiệp của địa chủ được tịch thu và chia cho nông dân nghèo; sau 3 năm khôi phục kinh tế (1955-1957), diện tích gieo trồng tăng 23,5%, năng suất lúa tăng 30,8%, sản lượng lương thực tăng 57%, lương thực bình quân đầu người tăng 43,6%, đàn trâu tăng 44,2%, đàn bò tăng 39%, đàn lợn tăng 20% so với 7 năm 1939… kinh tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị của nước ta. Sau đổi mới, nông thôn Việt Nam có nhiều tiến bộ, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ. Các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục được đổi mới, kết cấu ngành nghề của hộ thay đổi nhanh tăng tỷ lệ hộ công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ lệ hộ nông, lâm, thủy sản.

Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề đang phát triển mạnh ở nông thôn; hệ thống thủy lợi phát triển. Năm 2016, 98,6% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; tỷ lệ xã có lưới điện đạt 98,65, tỷ lệ hộ dân nông thôn có điện đạt 96,6%; 57,6% số xã có trung tâm văn hóa thể thao xã; 46% số thôn có nhà văn hóa; 48,65% thôn được công nhận là làng văn hóa; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, số hộ nghèo giảm dần thu nhập bình quân đầu người hộ nông thôn tăng từ 3,3 triệu đồng/người năm 2002 lên khoảng 24,4 triệu đồng năm 2015; dân cư nông thôn biết chữ chiếm khoảng 85% số dân, số nhà kiên cố chiếm 70%, số hộ có nguồn nước sạch chiếm khoảng 30%; hệ thống đường giao thông, thủy lợi và điện được mở rộng; trình độ đô thị hóa nông thôn được nâng lên. Mặc dù vậy kinh tế nông thôn vẫn còn mang tính chất thuần nông: năng suất lao động thấp; cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông, thủy lợi, lưới điện chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống; tỷ lệ tăng dân số tương đối cao; thu nhập và đời sống của người nông dân còn thấp, chênh lệch thu nhập và điều kiện sinh hoạt giữa thành thị và nông thôn ngày càng cao. Như vậy, nông thôn không chỉ là địa bàn để phát triển sản xuất nông nghiệp, mà còn là nền tảng xã hội, môi trường để kinh tế nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn hàng hóa hiện đại và bền vững.

Nông thôn, nông nghiệp gắn bó hài hòa với đô thị và công nghiệp, dịch vụ thành một chỉnh thể thống nhất. Đây là mô hình của nền kinh tế phát triển bao trùm và vững bền mà nhiều nước công nghiệp đã tìm ra và áp dụng thành công. Trong thể liên kết hài hòa đó, mối quan hệ nông nghiệp - nông thôn - nông dân đóng vai trò nền tảng [3 tr85]. Nông thôn mới Nông thôn mới được hiểu là nông thôn mà trong đó đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.

Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới [15,tr34]. Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa, dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.

Theo quan điểm của Đảng ta: nông thôn mới là nông thôn xã hội chủ nghĩa với trình độ phát triển vượt bậc so với nông thôn truyền thống; quan hệ sản xuất XHCN mới được áp dụng kết hợp với nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân; gắn trình độ sản xuất, khối lượng và chất lượng sản phẩm hàng hóa với phát triển dân số; đưa ra chính sách tiêu dùng hợp lý, áp dụng văn hóa vào đời sống sản xuất; thu hút nguồn nhân lực tại nông thôn để phát triển sản xuất nông nghiệp. Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao. Với sự quyết tâm, vào cuộc quyết liệt của hệ thống chính trị các cấp, đặc biệt trong công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và cư dân nông thôn, nâng cao chất lượng các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới (NTM). Thường xuyên cập nhật, phổ biến các mô hình, các điển hình tiên tiến, sáng kiến và kinh nghiệm hay về xây dựng NTM để nhân ra diện rộng [15, tr31].

Tập trung hoàn thành hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu (giao thông, điện, nước sạch, trường học các cấp, trạm y tế xã, nhà văn hóa và khu thể thao thôn) trên địa bàn xã, nhất là đối với những xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho 9 phát triển kinh tế - xã hội; tăng hưởng thụ trực tiếp cho người dân nông thôn. Đẩy mạnh phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả các tiêu chí nông thôn mới và các nội dung tổ chức sản xuất, tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển ngành nghề, nâng năng lực sản xuất, nâng cao thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng môi trường sống xanh - sạch - đẹp, đảm bảo an ninh trật tự, phát triển nông thôn mới bền vững… Xây dựng nông thôn mới là xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ