Chương 1: Chuyển giao trong mạng di động. 13 Giới thiệu tổng quan về quá trình chuyển giao mạng di động. Chương 2: Chuyển giao trong mạng LTE. Trình bày tóm tắt về mạng di động LTE (Long Term Evolution) và chuyển giao trong LTE.
Chương 3: Chuyển giao giữa LTE & UMTS. Đưa ra phương pháp giải quyết bài toán chuyển giao và chứng minh hiệu quả chuyển giao. CHUYỂN GIAO TRONG MẠNG DI ĐỘNG 1.1 Chuyển giao trong mạng di động nói chung Trong mạng tế bào, mỗi trạm phát sóng, cụ thể trong mạng LTE mỗi eNodeB có một vùng phủ sóng giới hạn. Do vậy khi bạn đang sử dụng thiết bị di động tham gia kết nối mạng trong khi di chuyển sẽ xảy ra trường hợp bạn di chuyển từ cell này sang cell khác, có nghĩa là bạn không thể kết nối cùng với 1 eNodeB[1].
Khi bạn di chuyển khỏi vùng phủ sóng của một trạm phát sóng (A) và đi vào vùng phủ sóng của một trạm phát sóng khác (B), lúc đó kết nối của thiết bị di động của bạn với trạm A sẽ bị ngắt và sẽ được chuyển kết nối với trạm phát sóng B. Và tất nhiên kết nối của bạn vẫn luôn là liên tục[1]. Ngoài ra chuyển giao còn xảy ra trong trường hợp dung lượng kết nối của một cell (A) đã dùng hết, thì khi đó kết nối của những thiết bị di động nằm trong vùng giao nhau của cell này với một cell khác (B) sẽ được chuyển kết nối sang cell đó (B) nhằm làm giảm bớt kết nối ở cell A để các thiết bị di động khác có thể kết nối đến[1]. Chuyển giao (handover) chính là quá trình chuyển đổi kết nối của thiết bị di động của bạn từ một cell này sang một cell khác trong mạng tế bào.
Chuyển giao là một điều kiện tất yếu đối với người sử dụng thiết bị di động, nó đảm bảo sự liên tục của các dịch vụ vô tuyến cũng như chất lượng của các dịch vụ đó[1]. Nói cách khác chuyển giao là một phần tất yếu của công nghệ di động, nếu không có chuyển giao chúng ta sẽ không có di động (no handover no mobility).2 Phân loại các loại hình chuyển giao (HO). Thực tế có nhiều khái niệm khác nhau liên quan đến chuyển giao (Handover - HO). Trong đó, trong mạng tế bào, người ta phân biệt ra hai loại cơ bản nhất là chuyển 15 giao cứng (hard HO)[2] và chuyển giao mềm (soft HO) [2] (khái niệm này không có ở mạng GSM).
Một chuyển giao cứng là chuyển giao trong đó kết nối tới các tế bào nguồn được giải phóng và chỉ sau đó kết nối tới tế bào đích mới được thiết lập. Do đó, các kết nối của thiết bị di động đến tế bào nguồn bị ngắt trước khi hoặc 'ngay khi' thực hiện kết nối đến tế bào đích, vì thế mà chuyển giao này còn được gọi là: break-before- make[3]. Chuyển giao cứng được tính toán để thời gian ngắt là tức thời để giảm thiểu sự gián đoạn cho cuộc gọi. Một chuyển giao cứng sẽ được giám sát bởi các kỹ sư mạng trong suốt quá trình kết nối.
Và nó yêu cầu xử lý ít nhất đối với dịch vụ mạng cung cấp. Một chuyển giao mềm là chuyển giao trong đó kết nối của thiết bị di động tới tế bào nguồn được giữ lại và được kết nối đồng thời song song với kết nối tới tế bào đích. Trong trường hợp này kết nối với tế bào đích là thành lập trước khi kết nối với tế bào nguồn được giải phóng, do đó chuyển giao này được gọi là: make-before-break[3]. Trong khoảng thời gian trong đó hai kết nối được sử dụng song song có thể ngắn hoặc đáng kể.
Chuyển giao liên quan đến việc sử dụng kết nối cho nhiều hơn hai tế bào, ví dụ như kết nối đến ba, bốn tế bào hoặc nhiều hơn có thể duy trì bởi một thiết bị di động trong cùng một thời gian. Khi một kết nối được chuyển giao mềm thì tín hiệu thu được là tốt nhất tại thời điểm đó, khi đó có thể kết hợp tất cả tín hiệu thu được để tạo ra một tín hiệu rõ ràng nhất[3]. Một lợi thế của chuyển giao cứng là tại bất kỳ thời điểm nào trong thời gian một kết nối chỉ sử dụng một kênh kết nối duy nhất. Trong khi đó thời gian ngắt trong chuyển giao cứng thực sự là rất ngắn và thường không thể được nhận thấy bởi người dùng di động.
Đối với một cuộc gọi, trong hệ thống tương tự cũ nó có thể được nghe như một tiếng click hay một tiếng bíp rất ngắn, còn trong hệ thống kỹ thuật số sau này thì là không đáng kể. Một ưu điểm khác của chuyển giao cứng nữa là phần cứng của thiết bị di động không cần phải có khả năng nhận được hai hay nhiều kênh song song, do đó nó có thiết kế đơn giản hơn và rẻ hơn. Tuy nhiên một nhược điểm là nếu chuyển 16 giao cứng thất bại thì các kết nối có thể tạm thời bị gián đoạn hoặc thậm chí bị ngừng ngay lập tức. Công nghệ mà sử dụng chuyển giao cứng thường có các thủ tục có thể thiết lập lại kết nối đến các tế bào nguồn nếu như kết nối đến các tế bào đích không thể thực hiện được.
Tuy nhiên tái thiết lập kết nối này không phải luôn luôn là có thể (trong trường hợp di chuyển ra khỏi cell) [3], trong trường hợp này kết nối sẽ bị chấm dứt và thậm chí ngay cả khi có thể thiết lập lại kết nối vẫn có thể gây ra một sự gián đoạn kết nối tạm thời. Một lợi thế của chuyển giao mềm là sự kết nối đến các tế bào nguồn chỉ được giải phóng khi một kết nối tin cậy đến các tế bào mục tiêu đã được thiết lập và do đó các trường hợp kết nối bị kết thúc bất thường do chuyển giao không thành công sẽ thấp hơn. Do đó độ tin cậy của kết nối là cao hơn khi kết nối thực hiện một chuyển giao mềm[3]. Tuy nhiên điều này đi kèm với chi phí phần cứng phức tạp hơn trong thiết bị di động, vì cần phải có khả năng xử lý hai kết nối song song.
Ngoài ra nhược điểm nữa của chuyển giao mềm là sử dụng đồng thời nhiều kênh trên mạng chỉ để hỗ trợ một kết nối duy nhất. Điều này làm giảm số lượng các kênh còn trống và do đó làm giảm khả năng của mạng. Ngoài ra còn có các khái niệm chuyển giao dọc (horizontal HO)[3] - chuyển giao trong cùng một hệ thống, trong cùng một công nghệ và chuyển giao dọc (vertical HO)[3] – chuyển giao giữa hai công nghệ khác nhau. Tiến tới các mạng tế bào hiện nay còn có thêm các khái niệm fast part switch HO, HO prediction… 1.3 Các bước cơ bản trong một quá trình chuyển giao Chuyển giao ngang (horizontal HO) trong cùng hệ thống một mạng tế bào có thể phân ra thành 3 bước chính như sau: 1.
HO Execution (tiến hành chuyển giao) Cụ thể từng bước như sau: Bước 1: Trong suốt quá trình liên lạc, thiết bị di động (UE) sẽ luôn đo năng lượng thu được từ trạm phát sóng đang nối kết và của cả các trạm phát sóng khác xung quanh nó theo một thời gian định kỳ. UE thường xuyên gửi báo cáo về tình hình đo đạc này về trạm phát sóng[4] (Node B trong UMTS/BTS trong GSM/eNodeB trong LTE) và thiết bị quản lý radio (RNC trong UMTS/BSC trong GSM). Nếu chất lượng đường truyền từ trạm phát hiện tại kết nối đến UE bị giảm mạnh dưới một mức nào đó, thì mạng sẽ quyết định tiến hành HO. Mạng sẽ chọn ra một trạm phát sóng lân cận mà cho chất lượng đường truyền tốt nhất để UE nối kết tới.
UE thiết lập nối kết tới trạm mới và tài nguyên dành riêng cho UE ở trạm cũ sẽ được giải phóng. Tùy theo chuyển giao là chuyển giao cứng hay chuyển giao mềm (soft/hard HO) mà các quá trình này sẽ được thực hiện một cách khác nhau.4 Các vấn đề cần quan tâm khi thiết kế một thuật toán (giao thức) chuyển giao Trước hết là làm thế nào để đo được chất lượng đường truyền cũng như các thông tin liên quan của một trạm phát sóng lân cận trong khi UE vẫn đang liên lạc với trạm phát sóng nó đang kết nối? Vấn đề này sẽ là đơn giản nếu như trạm phát sóng lân cận hoạt động cùng một tần số với trạm phát sóng nó đang kết nối. Nếu trong trường hợp các trạm phát sóng lân cận không cùng tần số với trạm phát sóng đang kết nối, giả sử UMTS hoạt động ở mode FDM thì UE phải dùng "compressed mode" để dừng liên lạc đang diễn ra và shift đến tần số của BS lân cận để có thể đo được năng lượng phát ra từ trạm phát sóng lân cận. Nếu trạm lân cận lại thuộc một công nghệ khác thì UE cần có hai giao diện vô tuyến, một dùng liên lạc với trạm phát sóng cũ, một cái khác dùng để dò thông tin của trạm phát sóng mới hoặc UE chỉ có một giao diện vô tuyến mà có khả năng tự cấu hình lại để hoạt động ở cả 2 chế độ.
18 Trong trường hợp chuyển giao khác hệ thống, bên cạnh thông tin trên bạn còn cần các thông tin khác, ví dụ "cost" của từng trạm phát sóng lân cận (giá bạn phải trả nếu thực hiện kết nối thông qua trạm phát sóng đấy). Và còn nhiều thông tin khác. Khi nào thì UE cần thiết phải thực hiện chuyển giao? Vấn đề không hẳn đơn giản là khi UE sắp mất kết nối với trạm phát sóng đang kết nối. Có thể UE thực hiện chuyển giao sang một trạm phát sóng có chất lượng tốt hơn/ giá rẻ hơn ngay khi nó vẫn đang kết nối với trạm phát sóng cũ.
Ai sẽ ra quyết định trong quá trình chuyển giao? UE hay các trạm phát sóng? Một khi có tất cả thông tin cấn thiết để thực hiện chọn lựa trạm phát sóng lân cận tốt nhất. Tốt nhất là theo nghĩa nào? Tốt nhất đối với UE này sẽ không phải là với tốt nhất đối với tất cả các UE khác… Một câu hỏi khác nữa là liệu trạm phát sóng lân cận đó có đảm bảo được QoS (Quality of Service) mà UE yêu cầu (expect) không? Làm thế nào để UE, trạm phát sóng gốc và trạm phát sóng đích (trạm được chọn trong số các BS lân cận để UE chuyển giao tới) có thể đồng thời trao đổi thông tin với nhau để thực hiện quá trình authentication? Nếu là chuyển giao dọc thì việc tính toán lợi nhuận (billing) của nhà phát hành từng công nghệ sẽ phân chia và giải quyết thế nào? Trong quá trình thực hiện chuyển giao, thời gian gián đoạn kết nối không được quá lớn: low handover latency + less packet loss.