CHƯƠNG I: TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU QUOC TE VÀ TRONG NƯỚC VE CHUYEN DỊCH CƠ CÁU LĨNH VUC NĂNG LƯỢNG 1. Các nghiên cứu nước ngoài 1. Nghiên cứu về lý luận 1. Bao cao “OECD Contribution to the United Nations Commission on Sustainable Development 15” - 2007 Báo cáo đã đưa ra một cái nhìn bao quát về các van dé năng lượng, những giá trị cốt lõi cần có dé giải quyết các thách thức về an ninh năng lượng lâu dài và bền vững, từ đó phối các lĩnh vực chính sách liên quan và xác định các công cụ và phản hồi chính sách.
Báo cáo đã đề cập đến khả năng của hệ thống cung cấp năng lượng - nhà cung cấp, nhà vận chuyên, nhà phân phối và các tổ chức quản lý, tài chính và R&D - cung cấp lượng năng lượng có giá cạnh tranh mà khách hàng yêu cầu, theo các tiêu chuẩn được chấp nhận về độ tin cậy, kip thời, chất lượng và an toàn và các tác động môi trường, trong nhiều hoàn cảnh địa chính tri, kinh tẾ, xã hội, công nghệ và thời tiết. Theo truyền thống, năng lượng được xác định là các nguồn năng lượng truyền thống như nước, dau,. Ngày nay, nó là một khái niệm rộng hơn, bao gồm tắt cả các dạng năng lượng. Bài viết chỉ ra các vấn đề về năng lượng thông qua tat cả các liên kết bên ngoài (nước ngoài) và bên trong (trong nước) mang năng lượng đến người tiêu dùng cuối cùng, và tất cả những cách cung cấp năng lượng có thé bi gian doan - bao gom trục tric thiết bị, thiết kế hệ thong sai sót, lỗi của nhà điều hành, hoạt động máy tính độc hại, thiếu hụt khuôn khô quy định và thị trường, các vấn đề tài chính doanh nghiệp, hành động lao động, thời tiết khắc nghiệt và các sự kiện tự nhiên, các hành động gây hắn (ví dụ như chiến tranh, khủng bồ và phá hoại) và gián đoạn địa chính trị.
Trên thực tế, những gián đoạn đáng lo ngại nhất hoặc những gián đoạn tiềm tàng là những gián đoạn liên quan đến: 1) các hiện tượng thời tiết cực đoan; 2) cung va cầu điện không phù hợp; 3) các lỗi quy định; và 4) sự tập trung của các nguồn tài nguyên dau khí ở một số khu vực nhất định trên thế giới. Nguồn cung cấp năng lượng không dam bảo sẽ kìm hãm sự phát triển bằng cách tăng chi phí năng lượng và cắt giảm dich vụ đắt đỏ (đôi khi đe dọa tính mạng) khi sự gián đoạn thực sự xảy ra. Ngành cung cấp năng lượng có thê thúc đây sự phát triển bền vững một cách tốt nhất bằng cách sản xuất và cung cấp các nguồn năng lượng an toàn và thân thiện với môi trường và bằng cách tăng hiệu quả sử dụng năng lượng. Những phẩm chất bao trùm này thường được nêu trong các khía cạnh của 3E - an ninh năng lượng, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Các phương pháp hiện tại dé đáp ứng các tiêu chí này liên quan đến việc đảm bảo đa dạng nhiên liệu, đa dạng nhà cung cấp, cơ sở hạ tang truyền tải và phân phối âm thanh, công nghệ chuyền đôi và phân phối hiệu quả, cũng như công nghệ cacbor thấp. Sustainable Development And Energy Resources - H. Steeg Wachtberg, Germany Bai báo mô tả ban chất và nội dung của tinh bền vững, các yếu tố tac động đến quá trình phát triển bền vững và xác định mục tiêu phát triển bền vững trong quá trình phát triển ngành năng lượng. Trọng tâm của bài báo là về khí thải hydrocacbon (CO2); Các cách tiếp cận quốc tế và các chính sách đã có dé giải quyết vấn đề như công ước về biến đổi khí hậu và nghị định thư Kyoto.
Báo cáo chỉ ra rằng gánh nặng cho sự thay đổi trên ngành năng lượng dé đạt được tính bền vững là rất lớn, đặc biệt là đối với các nước OECD và các nước Trung và Đông Âu. Bài báo chỉ ra sự lo lắng về việc các mục tiêu đề ra khó có thé đạt được trong thời gian dự kiến dù chính phủ và các thành phần ngành trong nền kinh tế đang tích cực cải thiện cơ cau dựa trên xu hướng phát triển bền vững; (c) Thống kê va đánh giá về các xu hướng cung và cầu trong tương lai của sự tăng trưởng các nguồn năng lượng sơ cấp cũng như tình hình dự trữ dầu, khí và than. Qua đó thấy rằng các nguồn năng lượng tái tạo cũng được đánh giá về tiềm năng trong tương lai nhưng vẫn chưa đủ phát triển và có thé thay thé hydrocacbon, năng lượng hạt nhân mặc dù không phát thải ra khí C02 nhưng lại mang nguy cơ về các sự cố vô cùng nghiêm trọng nếu không thé kiểm soát tốt và dé xảy ra sai sót trong quá trình sản xuất. (d) Hiệu quả năng lượng và công nghệ có vai trò trong qua trình chuyền dịch cơ cau ngành năng lượng và khai thác, sản xuất các loại năng lượng: (e) Cần phải tự do hóa các ngành năng lượng, coi việc phát triển các ngành năng lượng khác nhau là động lực phát triển của lĩnh vực này, bên cạnh đó tùy điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước mà đưa ra các chính sách thúc đây phát triển một số loại năng lượng phù hợp gắn liền với phát triển bền vữn; (f) Cuối cùng bài báo khang định rang quá trình phát triển các ngành năng lượng phải dựa trên điều kiện sẵn có của mỗi quốc gia và mỗi loại năng lượng cần có một kế hoạch rõ ràng va hiệu quả.
Multi Criteria Analysis in the Renewable Energy Industry - José Ramoén San Cristóbal Mateo - 2012 Nghiên cứu chi ra rang các nhà hoạch định chính sách khi đưa ra quyết định trong lĩnh vực Năng lượng tái tạo phải đối mặt với bối cảnh xã hội, kinh tế, công nghệ và môi trường ngày càng phức tạp tác động trực tiếp đến lĩnh vực Năng lượng. Các thành phần tổ chức khác nhau khi cùng đưa ra quyết định về vấn đề năng lượng sẽ có những quyết định và quan điểm khác nhau,do đó, việc xây dựng chính sách thay thế nhiên liệu hóa thạch băng Năng lượng tái tạo phải được giải quyết trong bối cảnh đa tiêu chí. Phân tích đa tiêu chí trong ngành năng lượng tái tạo là một phương án trực tiếp cho sự quan tâm ngày càng tăng của thế giới đối với ngành Năng lượng tái tạo, có thể được coi là một phương pháp khắc phục quan trọng cho nhiều van dé môi trường mà thé giới phải đối mặt ngày nay. Sự đa dạng của các tiêu chí và bối cảnh xã hội, kinh tế, công nghệ và môi trường ngày càng phúc tạp làm cho phân tích đa tiêu chí trở thành một công cụ có giá tri trong quá trình ra quyết định về thay thế nhiên liệu hóa thạch.
Bài báo cáo đưa ra các phương pháp đa tiêu chí đề ra quyết định và cách chúng hỗ trợ trong việc đạt được các giải pháp công bằng và chấp nhận được trong việc lựa chọn các dự án năng lượng tái tạo. Các phương pháp ra quyết định đa tiêu chí phố biến bao gồm Quy trình phân tích thứ bậc, PROMETHEE, ELECTRE, TOPSIS và VIKOR được sử dụng linh hoạt với trường hợp ứng dụng cụ thé. Như vậy, Phân tích đa tiêu chi trong ngành năng lượng tái tạo là nguồn lực lý tưởng cho các nhóm cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính như chính quyền địa phương, cơ quan học thuật, nhóm môi trường và chính phủ, thông qua các ưu tiên và hệ thống đánh giá của họ, có lợi ích và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình ra quyết định. Nghiên cứu thực tiễn và chính sách 1.S Electric Power Sector: A Review of Recent Studies - John Kwoka” - 2013 Việc tái cơ cấu ngành năng lượng điện của Hoa Ky đã được mô tả là “một trong những cuộc tái tô chức công nghiệp đơn lẻ lớn nhất trong lịch sử thế giới.” Cũng như việc bãi bỏ quy định và cải cách các ngành công nghiệp khác, tái cơ cầu ngành điện nhăm mục đích tạo ra hiệu quả về chỉ phí và lợi ích về giá cho người tiêu dùng.
Liệu nó có đạt được mục tiêu đã nêu hay không là trọng tâm của một số nghiên cứu gần đây được xem xét trong bài tổng quan này. Các nghiên cứu khác nhau theo nhiều cách quan trọng - quan trọng nhất là ở phương pháp luận và kết luận của chúng. Trọng tâm của tổng quan này là điểm mạnh và hạn chế của các phương pháp luận cụ thể của họ và do đó, về sự tin cậy mà người ta có thể đặt vào các kết luận của họ. Bài báo bắt đầu bằng cách đưa ra các phương pháp tiếp cận cơ bản được sử dụng trong đánh giá chính sách công.
Sau đó, nó minh họa những điểm này bằng các ví dụ từ các phương pháp luận được sử dụng trong một số nghiên cứu về chuyên dịch cơ cấu điện, kết luận rằng một số khiếm khuyết về phương pháp luận đặt ra câu hỏi về kết quả nghiên cứu. Đặc biệt, mặc dù được nhiều người ủng hộ, nhưng có rất ít bằng chứng đáng tin cậy và thuyết phục cho thấy người tiêu dùng đang sống tốt hơn do kết quả của việc tái cơ cấu ngành điện của Mỹ. The rise and fall of green growth: Korea's energy sector experiment and its lessons for sustainable energy policy - Yoon-Hee Ha -2019 Bài báo đánh giá một thập ky của các chiến lược và thực tiễn tăng trưởng năng lượng xanh của Tổ chức Sáng kiến Tăng trưởng Xanh Hàn Quốc (KGGD. Chính quyền Park Jung-Hee, người khởi xướng và lãnh đạo sự phát triển kinh tế của đất nước trong những năm 1960 và 1970 đã thực hiện một nỗ lực lớn dé đảm bảo năng lượng đáng tin cậy cho ngành công nghiệp.
Là một quốc gia bắt kịp với thị phần it oi và yêu kém về kỹ thuật cơ sở hạ tang, năng lượng giá rẻ được cho là yếu tố quan trong dé tạo ra khả năng cạnh tranh về giá của các sản pham Hàn Quốc trên thế giới thị trường. Chính phủ đã tạo điều kiện cho xây dựng các cơ sở năng lượng quy mô lớn tập trung vào các nhà máy lọc dau, than và điện hạt nhân bằng cách cho phép các biện pháp tài chính bao gồm các khoản vay nước ngoài, viện trợ không hoàn lại và ưu đãi thuế. Số lượng các nhà máy điện hạt nhân là một sự kiện mang tính biểu tượng cho hệ thống năng lượng Hàn Quốc vì điều này cho phép cung cấp đầy đủ năng lượng để phát triển kinh tế nhanh chóng của đất nước. Ngoài ra, một chính sách và khuôn khé pháp lý về giá điện thấp đã thực thi.