Chuyển dịch cơ cấu lao động ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình đô thị hóa

Luận án phân tích chuyển dịch cơ cấu lao động tại TP Hồ Chí Minh trong bối cảnh đô thị hóa, nêu rõ thách thức và cơ hội phát triển.

Chuyên ngành

Địa Lí Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2013

196
10
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chuyển dịch cơ cấu lao động tại TP

Chuyển dịch cơ cấu lao động (CCLĐ) tại TP. Hồ Chí Minh là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay. Thành phố này, với vai trò là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, đang trải qua những thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu lao động. Sự chuyển dịch này không chỉ phản ánh sự phát triển kinh tế mà còn là kết quả của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Theo các nghiên cứu, CCLĐ tại TP. Hồ Chí Minh đã có những biến đổi đáng kể, từ việc chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Điều này không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.

1.1. Đặc điểm cơ cấu lao động tại TP. Hồ Chí Minh

Cơ cấu lao động tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp và dịch vụ. Theo số liệu thống kê, tỉ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp đã giảm mạnh, chỉ còn chiếm khoảng 1% trong GDP. Điều này cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ từ các ngành truyền thống sang các ngành hiện đại hơn, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế.

1.2. Vai trò của đô thị hóa trong chuyển dịch CCLĐ

Đô thị hóa đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch CCLĐ tại TP. Hồ Chí Minh. Quá trình này không chỉ tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới mà còn làm tăng cường chất lượng lao động. Sự phát triển của các khu công nghiệp và dịch vụ đã thu hút một lượng lớn lao động từ các vùng nông thôn, góp phần làm tăng tỉ lệ đô thị hóa của thành phố.

II. Thách thức trong chuyển dịch cơ cấu lao động tại TP

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong chuyển dịch CCLĐ, TP. Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là chất lượng lao động còn hạn chế. Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo vẫn còn thấp, chỉ đạt khoảng 31,8% vào năm 2013. Điều này ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của thành phố trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Ngoài ra, sự chuyển dịch CCLĐ còn chậm ở một số ngành, đặc biệt là các ngành thâm dụng lao động.

2.1. Chất lượng lao động và đào tạo nghề

Chất lượng lao động tại TP. Hồ Chí Minh vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng cao. Các chính sách đào tạo nghề cần được cải thiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

2.2. Tình hình việc làm và di cư lao động

Tình hình việc làm tại TP. Hồ Chí Minh đang gặp khó khăn do sự di cư lao động từ các vùng nông thôn. Nhiều lao động không có kỹ năng phù hợp với yêu cầu của thị trường, dẫn đến tình trạng thất nghiệp cao. Cần có các giải pháp để hỗ trợ lao động di cư tìm kiếm việc làm ổn định.

III. Phương pháp giải quyết vấn đề chuyển dịch CCLĐ hiệu quả

Để giải quyết các vấn đề trong chuyển dịch CCLĐ, TP. Hồ Chí Minh cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Một trong những giải pháp quan trọng là cải thiện chất lượng đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng cho lao động. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tạo ra việc làm mới. Việc phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ cũng cần được chú trọng để thu hút lao động.

3.1. Cải thiện chất lượng đào tạo nghề

Cải thiện chất lượng đào tạo nghề là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng lao động. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để đảm bảo rằng chương trình đào tạo đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường.

3.2. Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tạo việc làm

Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần được triển khai để khuyến khích họ tạo ra nhiều việc làm mới. Điều này không chỉ giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế của thành phố.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về CCLĐ

Nghiên cứu về chuyển dịch CCLĐ tại TP. Hồ Chí Minh đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Sự chuyển dịch này không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Các ngành công nghiệp và dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới. Tuy nhiên, vẫn cần có những nghiên cứu sâu hơn để đánh giá toàn diện về tình hình CCLĐ.

4.1. Kết quả tích cực từ chuyển dịch CCLĐ

Chuyển dịch CCLĐ đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho TP. Hồ Chí Minh. Năng suất lao động tăng cao, góp phần vào sự phát triển kinh tế của thành phố. Các ngành công nghiệp và dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho người dân.

4.2. Những hạn chế cần khắc phục

Mặc dù có nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong chuyển dịch CCLĐ. Chất lượng lao động còn thấp, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo chưa cao. Cần có các giải pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế này.

V. Kết luận và tương lai của chuyển dịch CCLĐ tại TP

Chuyển dịch CCLĐ tại TP. Hồ Chí Minh là một quá trình cần thiết trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển kinh tế. Mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng với các giải pháp hợp lý, thành phố có thể nâng cao hiệu quả của quá trình này. Tương lai của CCLĐ tại TP. Hồ Chí Minh phụ thuộc vào khả năng cải thiện chất lượng lao động và tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới.

5.1. Định hướng phát triển CCLĐ trong tương lai

Định hướng phát triển CCLĐ trong tương lai cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng lao động và tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp để đạt được mục tiêu này.

5.2. Tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ

Chính sách hỗ trợ từ chính phủ và các cơ quan chức năng là rất quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch CCLĐ. Cần có các chính sách cụ thể để hỗ trợ doanh nghiệp và lao động trong quá trình chuyển dịch này.

15/07/2025
Luận án chuyển dịch cơ cấu lao động ở thành phố hồ chí minh trong quá trình đô thị hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu lao động và đô thị hóa. - Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động ở TP. HCM trong quá trình đô thị hóa. - Chương 3: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động ở TP.

HCM trong quá trình đô thị hóa đến năm 2025. 17 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG VÀ ĐÔ THỊ HÓA 1. Một số khái niệm về lao động, cơ cấu lao động và chuyển dịch CCLĐ 1. Lao động  Lao động Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần để thỏa mãn nhu cầu của bản thân và xã hội.Mác thì “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”[82, tr.

Để sản xuất ra của cải vật chất xã hội con người phải dùng sức lao động của mình kết hợp với công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho con người. Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội. Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động lao động con người sử dụng công cụ lao động tác động đến đối tượng lao động nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất, tinh thần phục vụ cho nhu cầu của bản thân và xã hội.  Nguồn lao động Nguồn lao động là nhân tố quan trọng hàng đầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần phục vụ cho nhu cầu của xã hội, có ảnh hưởng đến việc sử dụng các nguồn lực khác.

Trong dân số, không phải tất cả mọi người đều có thể tham gia sản xuất mà chỉ một bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo quy định. Có nhiều khái niệm về nguồn lao động như sau: Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân [39, tr. 18 Nguồn LĐ là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi LĐ có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc [80, tr. Trong luận án, nguồn lao động được hiểu là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động (ở nước ta quy định nam từ 15 – 60 tuổi và nữ từ 15 – 55 tuổi) có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.

Về mặt số lượng: nguồn lao động bao gồm: - Những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm. - Những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (những người nghỉ việc hoặc nghỉ hưu trước tuổi theo quy định của Bộ Luật lao động). Về mặt chất lượng: nguồn lao động được đánh giá dựa trên trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, tay nghề, sức khỏe, ý thức, kinh nghiệm của người lao động. Cần phân biệt rõ giữa nguồn lao động và dân số trong độ tuổi lao động.

Nguồn lao động chỉ bao gồm những người có khả năng lao động (dân số từ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong tuổi lao động có khả năng lao động). Dân số trong độ tuổi lao động bao gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động theo quy định (nam 15 – 60 tuổi, nữ 15 – 55 tuổi) có khả năng lao động và không có khả năng lao động (tàn tật, mất sức lao động bẩm sinh hoặc mất sức lao động do chiến tranh, tai nạn, nghề nghiệp…). Nguồn lao động được chia thành hai bộ phận: dân số hoạt động kinh tế và dân số không hoạt động kinh tế. - Dân số hoạt động kinh tế (hay là lực lượng lao động) Dân số hoạt động kinh tế (hay còn gọi là lực lượng lao động) bao gồm những người đang làm việc và cả những người không có việc làm (thất nghiệp) nhưng đang tích cực tìm việc làm trong một ngành nào đó của nền kinh tế trong một khoảng thời gian xác định [80, tr.

19 Trong Báo cáo điều tra lao động – việc làm 2013 của Tổng cục Thống kê thì “Lực lượng lao động hay dân số hoạt động kinh tế bao gồm những người đang làm việc và thất nghiệp từ 15 tuổi trở lên”[74]. Trong Niên giám thống kê Việt Nam 2013, Tổng cục Thống kê đưa ra khái niệm “Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế hiện tại) bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm (đang làm việc) và những người thất nghiệp trong khoảng thời gian xác định”[70]. Trong luận án này, dân số hoạt động kinh tế (hay lực lượng lao động) bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người không có việc làm (đang thất nghiệp) nhưng có nhu cầu làm việc và đang tích cực tìm kiếm việc làm. - Dân số không hoạt động kinh tế Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ số người trong độ tuổi lao động không tham gia hoạt động kinh tế.

Những người này không hoạt động kinh tế vì đang đi học (học sinh, sinh viên); đang làm công việc nội trợ cho bản thân và gia đình, không có thu nhập; không có khả năng lao động (ốm đau, tàn tật…) và những người không có nhu cầu làm việc (được hưởng lợi tức, thu nhập mà không phải làm việc…) [20], [80].1: Nguồn lao động và dân số hoạt động kinh tế Trong độ tuổi lao động Ngoài độ tuổi lao động Không Không Nội Đi Thất Đang Trên Lao Trên Dưới có khả có nhu trợ học nghiệp làm tuổi lao động tuổi lao tuổi lao năng cầu việc động trẻ em động động lao việc đang không không động làm làm làm làm việc việc việc Dân số không hoạt động kinh tế Dân số hoạt động kinh tế Nguồn lao động Nguồn: [80, tr.114] Như vậy, quy mô nguồn lao động luôn lớn hơn lực lượng lao động, nguồn lao động là cung tiềm năng về lao động còn lực lượng lao động là cung thực tế về lao động. Nhìn chung, lực lượng lao động có sự khác nhau về cơ cấu tuổi, giới tính, 20 thành thị và nông thôn, giữa các nước và khu vực với trình độ phát triển KT – XH khác nhau. Điều này phụ thuộc vào cơ cấu tuổi của dân số, đặc điểm KT – XH và khả năng tạo việc làm cho những người trong độ tuổi lao động. Đây là bộ phận tích cực và năng động nhất của dân số và là lực lượng quyết định cho sự phát triển của một quốc gia.

 Việc làm Trong Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2012), tại điều 9 chương II đã định nghĩa việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm [95]. Theo Tổng cục Thống kê trong Báo cáo điều tra lao động – việc làm 2013 thì “Việc làm là mọi hoạt động lao động từ 1 giờ trở lên tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm”[74]. Như vậy, việc làm là tất cả các hoạt động của người lao động trong những ngành nghề nhất định, không bị pháp luật ngăn cấm, nhằm tạo ra thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế trong thời điểm điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc [20, tr.

Như vậy, thất nghiệp là những người có khả năng LĐ, có nhu cầu LĐ nhưng hiện tại không có việc làm, đang tích cực tìm việc hoặc đang chờ đợi trở lại làm việc.  Năng suất lao động Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản xuất ra nó. Năng suất lao động được đo bằng tổng sản phẩm trong nước tính bình quân cho một lao động trong một thời kì nhất định, thường là một năm [87, tr. Năng suất lao động phản ánh yếu tố chất lượng người lao động, đến cơ cấu kinh tế của một quốc gia.

Năng suất lao động trong ngành chế tạo và các dịch vụ cao cấp thường cao hơn rất nhiều so với ngành nông nghiệp. Có hai cách để tăng năng suất lao động: Một là, tăng hiệu quả của các ngành kinh tế bằng cách áp dụng công nghệ mới, nâng cấp máy móc và đầu tư vào đào tạo kỹ năng và đào tạo nghề. Tuy nhiên, năng suất lao động có thể tăng nhiều nhất bằng cách thứ hai, chuyển 21 dịch các ngành kinh tế sang các hoạt động có giá trị gia tăng lớn hơn. Bởi vậy, các quốc gia cần chuyển dịch từ nông nghiệp và các ngành dịch vụ cấp thấp sang các ngành chế tạo và các ngành dịch vụ cao cấp để nâng cao NSLĐ.

Cơ cấu lao động  Khái niệm cơ cấu lao động Theo PGS.TS Phạm Quý Thọ thì “Cơ cấu biểu thị cấu trúc của một hệ thống, gồm nhiều bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; cơ cấu biểu hiện mối quan hệ về tỉ trọng giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể hoặc là tỉ lệ giữa các bộ phận với nhau, bộ phận này tăng thì bộ phận kia giảm và ngược lại”[60, tr. Theo Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực “Cơ cấu lao động là tổng thể các mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận lao động trong tổng nguồn lao động và được biểu hiện thông qua những tỉ lệ nhất định”[8, tr. Như vậy, cơ cấu lao động là tương quan tỉ lệ giữa các bộ phận cấu thành của tổng thể lao động, giữa các bộ phận này có mối quan hệ với nhau thể hiện cả về mặt số lượng và chất lượng lao động trong những khoảng thời gian và không gian nhất định, nó phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ