Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nhằm tạo việc làm và sử dụng hợp lý nguồn lao động đồng bằng sông hồng đến năm 2000

Tài liệu nghiên cứu Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nhằm tạo việc làm và sử dụng hợp lý nguồn lao động đồng bằng, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội

Chuyên ngành

Cơ cấu lao động

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài

1995

58
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chuyển Dịch Cơ Cấu Lao Động Nông Thôn ĐBSH

Đề tài nghiên cứu "Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nhằm tạo việc làm và sử dụng hợp nguồn lao động vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2000" đặt ra mục tiêu cấp thiết. Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới, đòi hỏi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động một cách đồng bộ. Cơ cấu lao động cần được nghiên cứu để có những điều chỉnh phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự chuyển dịch này không chỉ là thay đổi về số lượng mà còn là chất lượng lao động, kỹ năng nghề nghiệp. Việc làm mới cần được tạo ra, năng suất lao động cần được nâng cao, đảm bảo đời sống người lao động nông thôn ngày càng được cải thiện. Đề tài này mang tính thời sự và cấp bách, cần được nghiên cứu và thực hiện từ nay đến năm 2000. Chú trọng đào tạo việc làm phi nông nghiệp nông thôn để giải quyết vấn đề việc làm.

1.1. Định Nghĩa và Tầm Quan Trọng của Cơ Cấu Lao Động

Cơ cấu lao động xã hội là tập hợp các bộ phận lao động khác nhau, được phân chia theo các tiêu chí nhất định. Cơ cấu này phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia. Nghiên cứu cơ cấu lao động giúp hiểu rõ sự phân bổ nguồn nhân lực, đánh giá hiệu quả sử dụng lao động. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động là một quá trình khách quan, tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình này chịu sự tác động của nhiều yếu tố, bao gồm khoa học công nghệ, chính sách của nhà nước, và thị trường lao động. Chuyển dịch cơ cấu lao động vùng Đồng bằng sông Hồng đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn mới.

1.2. Tính Lịch Sử và Tính Xã Hội Của Cơ Cấu Lao Động

Cơ cấu lao động là một chỉnh thể tồn tại và vận động trong lịch sử. Tính lịch sử của phương thức sản xuất xã hội quy định tính lịch sử của cơ cấu lao động của một quốc gia. Việc nghiên cứu và điều khiển cơ cấu lao động phải dựa trên quan điểm lịch sử cụ thể của phép biện chứng duy vật. Nếu xa rời quan điểm này, sẽ dễ sa vào các khuynh hướng duy tâm, kìm hãm sự đổi mới hợp quy luật của cơ cấu lao động hoặc áp đặt chủ quan sự tiến bộ không có cơ sở khách quan. Cơ cấu lao động mang tính chất xã hội đậm nét và sâu sắc, gắn liền với lịch sử loài người và quá trình phân công lao động. Sự phát triển của sức sản xuất luôn đánh dấu sự phân công lao động mới.

II. Thực Trạng Lao Động Nông Thôn Vùng Đồng Bằng Sông Hồng

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có nguồn lao động dồi dào, cả về số lượng và chất lượng. Theo số liệu năm 1994, tỷ lệ người mù chữ trong độ tuổi lao động ở ĐBSH là thấp nhất cả nước (10,7%), trong khi tỷ lệ lao động kỹ thuật cao là cao nhất (14%). Vùng cũng tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên cứu đầu ngành. Tuy nhiên, việc phát huy thế mạnh này còn hạn chế. Cơ cấu lao động theo nhóm ngành CN-NN-DV ở ĐBSH đang chuyển dịch nhưng chưa rõ nét. Vai trò động lực của công nghiệp chưa rõ, sản phẩm mới còn ít. Các ngành công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm chậm phát triển, chưa đủ khả năng thu hút nguồn nguyên liệu tại chỗ. Theo Niên giám thống kê, năm 1992, lao động làm việc trong nhóm ngành công nghiệp ở ĐBSH giảm so với năm 1989.

2.1. Phân Tích Cơ Cấu Lao Động Theo Nhóm Ngành

Số liệu từ Niên giám Thống kê cho thấy cơ cấu lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân (KTQD) ở ĐBSH có sự chuyển dịch nhẹ và tiến bộ so với cơ cấu chung của cả nước. Đặc điểm cơ bản của cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo nhóm ngành công nghiệp (CN), nông nghiệp (NN), dịch vụ (DV) ở ĐBSH hiện nay là vai trò động lực của công nghiệp chưa rõ, sản phẩm mới còn ít, và sản phẩm truyền thống chậm đổi mới. Thế mạnh về công nghiệp cơ khí, vật liệu xây dựng, và sản xuất hàng tiêu dùng phát huy kém và ngày càng yếu thế trong cạnh tranh.

2.2. Cơ Cấu Lao Động Theo Nhóm Tuổi và Trình Độ Học Vấn

Cơ cấu lao động theo nhóm tuổi và trình độ học vấn ở ĐBSH cho thấy sự phân bố chưa đồng đều. Tỷ lệ lao động trẻ và có trình độ cao còn thấp so với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Việc nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn, là yếu tố quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.

III. Giải Pháp Chuyển Dịch Cơ Cấu Lao Động Nông Thôn Đến 2000

Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động ở ĐBSH cần được thực hiện theo hướng tăng nhanh tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Đồng thời, cần nâng cao năng suất lao động trong ngành nông nghiệp thông qua ứng dụng khoa học công nghệ và cơ giới hóa. Việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn là yếu tố then chốt để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Phát triển kinh tế hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình đổi mới cơ cấu lao động.

3.1. Cải Biến Cơ Cấu Kinh Tế Nông Nghiệp Nông Thôn

Cần cải biến cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội được tạo ra trong khu vực này. Cần đầu tư phát triển các dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng như thủy lợi, giao thông vận tải, thông tin liên lạc nhằm vừa tạo năng lực sản xuất mới, vừa tăng nhanh khả năng tiếp thị. Các loại dịch vụ quan trọng như dịch vụ cung ứng vật tư kỹ thuật và công nghệ, dịch vụ tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ tài chính, pháp hướng nghiệp, đào tạo dạy nghề cũng ngày càng cần thiết.

3.2. Mở Rộng Hợp Tác Quốc Tế về Lao Động

Mở rộng hợp tác quốc tế về lao động, đưa lao động nông thôn đi lao động ở các nước, hòa nhập lao động Việt Nam vào thị trường lao động quốc tế. Số lao động đi lao động nước ngoài cần chiếm tỷ lệ đáng kể trong số lao động gia tăng thêm hàng năm. Phương hướng này đang được triển khai rất mạnh ở nhiều nước trong khu vực. Quan trọng là tạo cơ hội việc làm mới phù hợp với điều kiện của từng người.

IV. Chính Sách Hỗ Trợ Chuyển Dịch Cơ Cấu Lao Động Hiệu Quả

Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận vốn, công nghệ và thông tin thị trường. Cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động hiệu quả, giúp người lao động tìm kiếm việc làm phù hợp. Cần tăng cường đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là các ngành công nghiệp và dịch vụ có tiềm năng phát triển. Các chính sách hỗ trợ cần hướng đến việc tạo ra sự bình đẳng trong cơ hội việc làm cho mọi người, không phân biệt giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn.

4.1. Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật và Cơ Chế Quản Lý Lao Động

Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý lao động để tạo môi trường thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. Các quy định về tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động cần được thực thi nghiêm chỉnh. Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Đẩy mạnh các hoạt động giới thiệu việc làm phi nông nghiệp nông thôn.

4.2. Nâng Cao Năng Lực Của Các Tổ Chức Tư Vấn và Giới Thiệu Việc Làm

Cần nâng cao năng lực của các tổ chức tư vấn và giới thiệu việc làm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động. Các tổ chức này cần được trang bị đầy đủ thông tin về thị trường lao động, có đội ngũ cán bộ tư vấn chuyên nghiệp, và có khả năng kết nối hiệu quả giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tăng cường phân bổ lại lao động để đáp ứng nhu cầu phát triển của kinh tế.

V. Đánh Giá và Kết Quả Chuyển Dịch Lao Động Nông Thôn ĐBSH

Việc đánh giá hiệu quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động cần dựa trên các tiêu chí cụ thể, như tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, năng suất lao động, thu nhập bình quân của người lao động, và mức độ giảm nghèo ở nông thôn. Cần có các nghiên cứu sâu sắc về tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến lao động nông thôn, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp. Kết quả chuyển dịch cần phải đo lường được thông qua các chỉ số cụ thể.

5.1. Các Chỉ Số Đánh Giá Hiệu Quả Chuyển Dịch Cơ Cấu

Các chỉ số đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu lao động bao gồm: Tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp giảm; Tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ tăng; Năng suất lao động tăng; Thu nhập bình quân của người lao động tăng; Tỷ lệ hộ nghèo giảm. Việc theo dõi và đánh giá các chỉ số này giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và đưa ra các quyết định chính sách phù hợp.

5.2. Bài Học Kinh Nghiệm và Khuyến Nghị Chính Sách

Từ kinh nghiệm thực tiễn, có thể rút ra các bài học kinh nghiệm quý báu cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong tương lai. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các chính sách liên quan đến lao động. Cần tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, và người lao động vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Chú trọng giải quyết vấn đề di cư lao động từ nông thôn ra thành thị.

VI. Tương Lai Chuyển Dịch Cơ Cấu Lao Động Nông Thôn ĐBSH

Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động ở ĐBSH sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong những năm tới, do tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của khoa học công nghệ. Cần có tầm nhìn dài hạn và các giải pháp chủ động để đối phó với những thách thức và tận dụng những cơ hội mà quá trình này mang lại. Tương lai của lao động nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới.

6.1. Xu Hướng Phát Triển và Cơ Hội Việc Làm Mới

Xu hướng phát triển kinh tế - xã hội sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới trong các ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ du lịch, công nghệ thông tin, và các ngành kinh tế xanh. Cần có các chương trình đào tạo nghề phù hợp để người lao động có thể đáp ứng được yêu cầu của các ngành này. Cần tạo môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp khởi nghiệp và phát triển, từ đó tạo thêm nhiều việc làm mới.

6.2. Thách Thức và Giải Pháp Ứng Phó Trong Tương Lai

Thách thức lớn nhất trong tương lai là tình trạng thiếu hụt lao động có kỹ năng cao, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường lao động, và những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp. Cần có các giải pháp đồng bộ để giải quyết những thách thức này, như tăng cường đầu tư vào giáo dục và đào tạo, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, và hỗ trợ nông dân thích ứng với biến đổi khí hậu.

24/05/2025
Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nhằm tạo việc làm và sử dụng hợp lý nguồn lao động đồng bằng sông hồng đến năm 2000

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Phân công và phân công lại lao động xã hội là quá trình tất yếu nảy sinh do nhu cầu của sản xuất và đời sống. Quy mô, hình thức và bước đi của sự phân công này phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội cũng như khả năng và yêu cầu phát triển của mỗi nước trong từng giai đoạn Lịch sử. Phân công lao động xã hội hợp lý có tác dụng như một sức mạnh vật chất để khai thác và phát huy có hiệu quả nhất nguồn nhân lực xã hội trong việc phát triển và ổn định nền kinh tế xã hội. Nước ta, sau gần 50 năm xây dựng và phát triển, mặc dù phải hao tổn rất nhiều sức người và sức của trong ba cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, phải khắc phục hậu quả lớn về nhiều mặt do chiến tranh để lại, nhưng đã có nhiều cố gắng để từng bước phân công lại lao động xã hội hợp lý hơn trên địa bàn cả nước cũng như giữa các vùng, tiểu vùng và trong nội bộ từng vùng.

Những kết quả đã đạt được trong quá trình này, đặc biệt là ở những năm đầu của thời kỳ đổi mới, đã có tác dụng rõ rệt trong việc ổn định xã hội và thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tình trạng phân công lao động như hiện nay ở khu vực nông thôn cả nước nói chung và ĐBSH nói riêng, đang là một trở ngại lớn cho việc khai thác các nguồn tiểm năng về đất đai, khí hậu, lao động, nguồn vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có cũng như gọi vốn đầu tư từ bên ngoài; đang huỷ hoại dần truyền thống cần cù, trí thông minh, kinh nghiệm và năng lực sáng tạo của đội ngũ lao động đông đảo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều thành phần kinh tế, làm cản trở đến tiến trình đổi mới, trong khu vực cũng như cả nước. Để phát huy những lợi thế riêng có của vùng ĐBSH về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội và nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng như để khai thác có hiệu quả tiểm năng con người và một số vấn đề xã hội cho phát triển, nông thôn ĐBSH cần có sự chuyển dịch tích cực, mạnh mẽ, và vững chắc hơn về cơ cấu sản xuất nông nghiệp, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo tinh thần các nghị quyết Hội nghị TƯ (Khoá 7) đã đề ra. Những bài học thành công trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, là cơ sở thực tiễn để khẳng định: phân công lại lao động - đổi mới cơ cấu lao động theo hướng công _- 3 — nghiệp hoá là giải pháp có tính chiến lược nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn nhân lực ở nông thôn vùng ĐBSH trong giai đoạn chuyển đổi.

Đây cũng là một nội dung lớn trong các chương trình trọng điểm của quốc gia mà ngành lao động — thương binh xã hội phải nghiên cứu, tổ chức thực hiện từ nay đến năm 2000. Bên cạnh nhiều vấn để thực tiễn phức tạp đặt ra, một loạt vấn để về nhận thức và phương pháp luận khoa học cũng cần được quan tâm và có sự nghiên cứu thấu đáo như: xác định cơ cấu lao động như một phạm trù kinh tế - xã hội, tính độc lập tương đối và mối liên hệ hữu cơ giữa cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế; hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá cơ cấu lao động. Những vấn đề trên tuy rất cơ bản và có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu và điều khiển quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, nhưng đến nay cũng chưa được nhiều nhà khoa học và quản lý quan tâm. Ngoài một số Nghị quyết của TƯ và chương trình của chính phủ có tính chất định hướng, còn hầu như chưa có một công trình khoa học nào bàn chính thức về vấn để này.

Từ những lý do đã nêu trên, có thể nói để tài: " Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nhằm tạo việc làm và sử dụng hợp lý nguồn lao động vùng ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG đến năm 2000" là cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với Việt nam trong giai đoạn đổi mới. CHUONG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU, CƠ CẤU LAO ĐỘNG XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI. I- CO CAU LAO DONG LA MOT PHAM TRU KINH TẾ - XÃ HOI 1- Khai niệm về cơ cấu lao động xã hội. Trong hệ thống lớn kinh tế - xã hội(*), lao động là một phân hệ.

Cũng như H1, H2 tồn tại và vận động theo những quy luật khách quan. Bản thân H2 là một chỉnh thể, nó bao gồm nhiều phần tử, nhiều bộ phận hợp thành. Giữa những phần tử, những bộ phận đó tồn tại những quan hê cấu trúc nôi tai. Đó là cơ cấu lao động ( ký hiệu H3 ).

Hãy xét lược đồ sau ? -— > + | > » ~- -~—-- > a H2 Biểu diễn lao động của nước ta thành tập hợp H2. Các phần tử của nó ( Ai, i = l—n ) có thể là các chỉ tiêu tuyệt đối về lao động (lao động nam, nữ; lao động thành thị, nông thôn; trong và ngoài độ tuổi lao động; lao động sản xất vật chất và phi sản xuất vật chất; lao động công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; lao động trí óc và chân tay; v. Bản thân các phần tử Ai và giữa các phần tử Ai, cũng có những mối quan hệ cấu trúc nội tại, quan hệ cấu trúc giữa các Ài và giữa chúng và giữa Ai với tổng thể H2. Tập hợp các mối quan hệ đó, tạo nên tập mới là H3, mà ta gọi là cơ cấu lao động.

— (+) Ký hiệu là Hệ thống HI, còn lao động - H2. Lao động gắn liền với dân số, và các quá trình kinh tế - xã hội. Theo quan điểm phát triển, mỗi người lao động, cùng một lúc vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu dùng. Ở góc độ thứ nhất, lao động tạo ra GDP, của cải vật chất và tỉnh thần.

Ỏ góc độ thứ 2, người lao động hưởng thụ kết quả của phân phối và tái phân phối tổng sản phẩm xã hội và các giá trị tỉnh thần. Cách hiểu đó làm sáng tỏ tính kinh tế — xã hội của lao động. và đó cũng là cội nguồn để xác định cơ cấu lao động là một phạm trù kinh tế - xã hội. Ngày nay, mỗi sự biến đổi của cơ cấu lao - động đều có quan hệ mật thiết tới sự thay đổi của cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế của bản thân mỗi người lao động, mỗi hộ gia đình, mỗi địa phương, mỗi: vùng cũng như cả nước.

Trên quan điểm của lý thuyết hệ thống và lý thuyết thông tin, có thể hiểu cơ cấu lao động là phạm trù kinh tế - xã hội phản ánh các quan hệ tỷ lệ giữa các phần tử, các bộ phận cấu thành tổng thể lao động xã hội theo thời gian, không gian, theo yếu tố tạo nguồn, theo ngành nghề, theo các đặc trưng kinh tế - xã hội và các đặc trưng nhân khẩu học. Nhận thức khoa học này về cơ cấu lao động, một mặt chỉ ra bản chất vốn có của nó, mặt khác có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn cải tiến cơ cấu đó nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn nhân lực xã hội 2- Thuộc tính cơ bản của phạm trù cơ cấu lao động Cơ cấu lao động là một phạm trù kinh tế - xã hội phức tạp, có các thuộc tính cơ bản là: tính khách quan; tính lịch sử; tính xã hội và tính phức tạp, đa dạng, nhiều chiều.1 Tính khách quan. Cơ cấu lao động, như đã trình bày cội nguồn ở 1.1, bắt nguồn từ dân số và cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Tính khách quan của quá trình dân số và của cơ cấu kinh tế, đã xác định tính khách quan của cơ cấu lao động xã hội.

Tuyệt đại bộ phận dân số nước ta sống ở nông thôn, kéo theo đại bộ phận lực lượng lao động nước ta là lao động nông thỏn. Nền kinh tế nước ta chủ yếu vẫn là nông nghiệp. Vì vậy, cơ cấu lao động chủ yếu là nông dân. Tính khách quan của cơ cấu lao động còn được biểu hiện ở nhiều bình diện khác.

Trên địa bàn cả nước, điểu kiện tự nhiên quy định &p cấu lao động ( ở miển núi, chủ yếu là lao động lâm nghiệp; ở wen biển là lao động ngư nghiệp, diêm nghiệp, công nghiệp dầu khí, đóng tầu, dịch vụ, du lịch,. Trong phạm vi một đơn vị vi mô, trình độ khoa học —- công nghệ quyết định cơ cấu lao động (cơ cấu lao động trong 1 doanh nghiệp cơ khí hiện đại khác với trong 1 tổ hợp tiểu thủ công nghiệp; cơ cấu lao động trong một doanh nghiệp ngành hoá chất khác với trong một doanh nghiệp ngành điện tử; v. Một cách khái quát, yếu tố lao động cùng với các yếu tố vật chất, tạo ra sản phẩm xã hội trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sự kết hợp hữu cơ giữa yếu tố sức lao động với các yếu tố vật chất, là một tất yếu khách quan, tuân theo những quy luật khách quan.

Chính tính khách quan đó của quá trình tái sản xuất xã hội đã qui định tính khách quan của cơ cấu lao động xã hội. Tính lịch sử Cơ cấu lao động là một chỉnh thể, tồn tại và vận động trong lịch sử. Tính lịch sử của phương thức sản xuất xã hội qui định tính lịch sử của cơ cấu lao động của một quốc gia. Khi nghiên cứu, nhận thức để điểu khiển cơ cấu lao động, phải đứng trên quan điểm lịch sử - cụ thể của phép biện chứng duy vật.

Nếu xa rời quan điểm này, sẽ không tránh khỏi sa vào các khuynh hướng duy tâm, dưới nhiều dạng biểu hiện. Hoặc là kìm hãm sự đổi mới hợp quy luật của cơ cấu lao động trong quan hệ tương tác hữu cơ với môi trường và điều kiện kinh tế - xã hội chứa đựng cơ cấu lao động hoặc là áp đặt chủ quan cho cơ cấu lao động sự "tiến bộ" không có cơ sở khách quan rốt cuộc, kéo lùi sự tiến bộ đích thực của cơ cấu lao động. , Tính lịch sử - cụ thể của cơ cấu lao động còn đòi hỏi phải tính tới toàn bộ các yếu tố cấu thành cơ cấu lao động của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử. Cơ cấu lao động mang tính chất xã hội đậm nét và sâu sắc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Chuyển Dịch Cơ Cấu Lao Động Nông Thôn Vùng Đồng Bằng Sông Hồng Đến Năm 2000" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự thay đổi trong cơ cấu lao động tại khu vực nông thôn của Đồng Bằng Sông Hồng. Tài liệu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch này, bao gồm sự phát triển kinh tế, chính sách hỗ trợ từ nhà nước và nhu cầu thị trường. Những điểm chính được nêu bật trong tài liệu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tình hình lao động nông thôn mà còn chỉ ra những lợi ích tiềm năng cho cộng đồng, như tăng cường khả năng cạnh tranh và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn ths quản lý nhà nước về quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội từ thực tế vùng đồng bằng sông hồng. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về quy hoạch và phát triển kinh tế xã hội, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến lao động và phát triển nông thôn trong khu vực.