Mở đầu Phân công và phân công lại lao động xã hội là quá trình tất yếu nảy sinh do nhu cầu của sản xuất và đời sống. Quy mô, hình thức và bước đi của sự phân công này phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội cũng như khả năng và yêu cầu phát triển của mỗi nước trong từng giai đoạn Lịch sử. Phân công lao động xã hội hợp lý có tác dụng như một sức mạnh vật chất để khai thác và phát huy có hiệu quả nhất nguồn nhân lực xã hội trong việc phát triển và ổn định nền kinh tế xã hội. Nước ta, sau gần 50 năm xây dựng và phát triển, mặc dù phải hao tổn rất nhiều sức người và sức của trong ba cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc, phải khắc phục hậu quả lớn về nhiều mặt do chiến tranh để lại, nhưng đã có nhiều cố gắng để từng bước phân công lại lao động xã hội hợp lý hơn trên địa bàn cả nước cũng như giữa các vùng, tiểu vùng và trong nội bộ từng vùng.
Những kết quả đã đạt được trong quá trình này, đặc biệt là ở những năm đầu của thời kỳ đổi mới, đã có tác dụng rõ rệt trong việc ổn định xã hội và thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tình trạng phân công lao động như hiện nay ở khu vực nông thôn cả nước nói chung và ĐBSH nói riêng, đang là một trở ngại lớn cho việc khai thác các nguồn tiểm năng về đất đai, khí hậu, lao động, nguồn vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có cũng như gọi vốn đầu tư từ bên ngoài; đang huỷ hoại dần truyền thống cần cù, trí thông minh, kinh nghiệm và năng lực sáng tạo của đội ngũ lao động đông đảo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều thành phần kinh tế, làm cản trở đến tiến trình đổi mới, trong khu vực cũng như cả nước. Để phát huy những lợi thế riêng có của vùng ĐBSH về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội và nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng như để khai thác có hiệu quả tiểm năng con người và một số vấn đề xã hội cho phát triển, nông thôn ĐBSH cần có sự chuyển dịch tích cực, mạnh mẽ, và vững chắc hơn về cơ cấu sản xuất nông nghiệp, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo tinh thần các nghị quyết Hội nghị TƯ (Khoá 7) đã đề ra. Những bài học thành công trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, là cơ sở thực tiễn để khẳng định: phân công lại lao động - đổi mới cơ cấu lao động theo hướng công _- 3 — nghiệp hoá là giải pháp có tính chiến lược nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn nhân lực ở nông thôn vùng ĐBSH trong giai đoạn chuyển đổi.
Đây cũng là một nội dung lớn trong các chương trình trọng điểm của quốc gia mà ngành lao động — thương binh xã hội phải nghiên cứu, tổ chức thực hiện từ nay đến năm 2000. Bên cạnh nhiều vấn để thực tiễn phức tạp đặt ra, một loạt vấn để về nhận thức và phương pháp luận khoa học cũng cần được quan tâm và có sự nghiên cứu thấu đáo như: xác định cơ cấu lao động như một phạm trù kinh tế - xã hội, tính độc lập tương đối và mối liên hệ hữu cơ giữa cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế; hệ thống chỉ tiêu và phương pháp đánh giá cơ cấu lao động. Những vấn đề trên tuy rất cơ bản và có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu và điều khiển quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, nhưng đến nay cũng chưa được nhiều nhà khoa học và quản lý quan tâm. Ngoài một số Nghị quyết của TƯ và chương trình của chính phủ có tính chất định hướng, còn hầu như chưa có một công trình khoa học nào bàn chính thức về vấn để này.
Từ những lý do đã nêu trên, có thể nói để tài: " Nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nhằm tạo việc làm và sử dụng hợp lý nguồn lao động vùng ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG đến năm 2000" là cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với Việt nam trong giai đoạn đổi mới. CHUONG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU, CƠ CẤU LAO ĐỘNG XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI. I- CO CAU LAO DONG LA MOT PHAM TRU KINH TẾ - XÃ HOI 1- Khai niệm về cơ cấu lao động xã hội. Trong hệ thống lớn kinh tế - xã hội(*), lao động là một phân hệ.
Cũng như H1, H2 tồn tại và vận động theo những quy luật khách quan. Bản thân H2 là một chỉnh thể, nó bao gồm nhiều phần tử, nhiều bộ phận hợp thành. Giữa những phần tử, những bộ phận đó tồn tại những quan hê cấu trúc nôi tai. Đó là cơ cấu lao động ( ký hiệu H3 ).
Hãy xét lược đồ sau ? -— > + | > » ~- -~—-- > a H2 Biểu diễn lao động của nước ta thành tập hợp H2. Các phần tử của nó ( Ai, i = l—n ) có thể là các chỉ tiêu tuyệt đối về lao động (lao động nam, nữ; lao động thành thị, nông thôn; trong và ngoài độ tuổi lao động; lao động sản xất vật chất và phi sản xuất vật chất; lao động công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; lao động trí óc và chân tay; v. Bản thân các phần tử Ai và giữa các phần tử Ai, cũng có những mối quan hệ cấu trúc nội tại, quan hệ cấu trúc giữa các Ài và giữa chúng và giữa Ai với tổng thể H2. Tập hợp các mối quan hệ đó, tạo nên tập mới là H3, mà ta gọi là cơ cấu lao động.
— (+) Ký hiệu là Hệ thống HI, còn lao động - H2. Lao động gắn liền với dân số, và các quá trình kinh tế - xã hội. Theo quan điểm phát triển, mỗi người lao động, cùng một lúc vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu dùng. Ở góc độ thứ nhất, lao động tạo ra GDP, của cải vật chất và tỉnh thần.
Ỏ góc độ thứ 2, người lao động hưởng thụ kết quả của phân phối và tái phân phối tổng sản phẩm xã hội và các giá trị tỉnh thần. Cách hiểu đó làm sáng tỏ tính kinh tế — xã hội của lao động. và đó cũng là cội nguồn để xác định cơ cấu lao động là một phạm trù kinh tế - xã hội. Ngày nay, mỗi sự biến đổi của cơ cấu lao - động đều có quan hệ mật thiết tới sự thay đổi của cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế của bản thân mỗi người lao động, mỗi hộ gia đình, mỗi địa phương, mỗi: vùng cũng như cả nước.
Trên quan điểm của lý thuyết hệ thống và lý thuyết thông tin, có thể hiểu cơ cấu lao động là phạm trù kinh tế - xã hội phản ánh các quan hệ tỷ lệ giữa các phần tử, các bộ phận cấu thành tổng thể lao động xã hội theo thời gian, không gian, theo yếu tố tạo nguồn, theo ngành nghề, theo các đặc trưng kinh tế - xã hội và các đặc trưng nhân khẩu học. Nhận thức khoa học này về cơ cấu lao động, một mặt chỉ ra bản chất vốn có của nó, mặt khác có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn cải tiến cơ cấu đó nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn nhân lực xã hội 2- Thuộc tính cơ bản của phạm trù cơ cấu lao động Cơ cấu lao động là một phạm trù kinh tế - xã hội phức tạp, có các thuộc tính cơ bản là: tính khách quan; tính lịch sử; tính xã hội và tính phức tạp, đa dạng, nhiều chiều.1 Tính khách quan. Cơ cấu lao động, như đã trình bày cội nguồn ở 1.1, bắt nguồn từ dân số và cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Tính khách quan của quá trình dân số và của cơ cấu kinh tế, đã xác định tính khách quan của cơ cấu lao động xã hội.
Tuyệt đại bộ phận dân số nước ta sống ở nông thôn, kéo theo đại bộ phận lực lượng lao động nước ta là lao động nông thỏn. Nền kinh tế nước ta chủ yếu vẫn là nông nghiệp. Vì vậy, cơ cấu lao động chủ yếu là nông dân. Tính khách quan của cơ cấu lao động còn được biểu hiện ở nhiều bình diện khác.
Trên địa bàn cả nước, điểu kiện tự nhiên quy định &p cấu lao động ( ở miển núi, chủ yếu là lao động lâm nghiệp; ở wen biển là lao động ngư nghiệp, diêm nghiệp, công nghiệp dầu khí, đóng tầu, dịch vụ, du lịch,. Trong phạm vi một đơn vị vi mô, trình độ khoa học —- công nghệ quyết định cơ cấu lao động (cơ cấu lao động trong 1 doanh nghiệp cơ khí hiện đại khác với trong 1 tổ hợp tiểu thủ công nghiệp; cơ cấu lao động trong một doanh nghiệp ngành hoá chất khác với trong một doanh nghiệp ngành điện tử; v. Một cách khái quát, yếu tố lao động cùng với các yếu tố vật chất, tạo ra sản phẩm xã hội trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sự kết hợp hữu cơ giữa yếu tố sức lao động với các yếu tố vật chất, là một tất yếu khách quan, tuân theo những quy luật khách quan.
Chính tính khách quan đó của quá trình tái sản xuất xã hội đã qui định tính khách quan của cơ cấu lao động xã hội. Tính lịch sử Cơ cấu lao động là một chỉnh thể, tồn tại và vận động trong lịch sử. Tính lịch sử của phương thức sản xuất xã hội qui định tính lịch sử của cơ cấu lao động của một quốc gia. Khi nghiên cứu, nhận thức để điểu khiển cơ cấu lao động, phải đứng trên quan điểm lịch sử - cụ thể của phép biện chứng duy vật.
Nếu xa rời quan điểm này, sẽ không tránh khỏi sa vào các khuynh hướng duy tâm, dưới nhiều dạng biểu hiện. Hoặc là kìm hãm sự đổi mới hợp quy luật của cơ cấu lao động trong quan hệ tương tác hữu cơ với môi trường và điều kiện kinh tế - xã hội chứa đựng cơ cấu lao động hoặc là áp đặt chủ quan cho cơ cấu lao động sự "tiến bộ" không có cơ sở khách quan rốt cuộc, kéo lùi sự tiến bộ đích thực của cơ cấu lao động. , Tính lịch sử - cụ thể của cơ cấu lao động còn đòi hỏi phải tính tới toàn bộ các yếu tố cấu thành cơ cấu lao động của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử. Cơ cấu lao động mang tính chất xã hội đậm nét và sâu sắc.