Chương 1: Khung lý thuyết và tong quan nghiên cứu về nghèo đa chiều. Chương 2: Thực trạng nghèo đa chiều và các nhân té tác động tới nghèo đa chiều của khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc. Chương 3: Kết luận, định hướng và khuyến nghị chính sách giảm nghèo đa chiều tại khu vực Trung du và Miễn núi phía Bắc. CHUONG 1: KHUNG LÝ THUYET VÀ TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE NGHEO ĐA CHIEU 1.1 KHÁI NIEM VÀ BAN CHAT NGHEO ĐA CHIEU 1.1 Nghéo - nghéo vat chat- nghéo da chiéu Trong tinh hinh kinh tế toàn cầu biến động, khủng hoảng việc làm, biến đổi khí hậu, thiên tai diễn ra thường xuyên và phức tạp, thực trạng nghéo tại các quốc gia vẫn chưa được khắc phục mà còn có xu hướng tăng cao hơn.
Nghèo bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau, việc nhận ra thì rat dé dàng tuy nhiên để xóa nghẻo thì lại quả là một điều khó khăn. Nghèo vô hình chung trở thành một trong những nguyên nhân gây bất ôn kinh tế- xã hội toàn cầu và là mối de dọa đôi với hòa bình, an ninh moi quôc gia. Trước tiên, nghèo là một khía cạnh thuộc về xã hội, là tình trạng chất lượng cuộc sống thiếu thốn và không được đảm bảo so với mức trung bình của xã hội. Nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình "Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam-1995" đã đưa ra định nghĩa:"Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế " Trước đây, nghèo được xem xét dưới góc nhìn đơn chiều, phương pháp đo lường nghèo đơn chiều được dựa theo chuẩn nghèo thu nhập và tỷ lệ nghèo được ước lượng theo chuẩn nghèo chỉ tiêu bình quân (WB, 1995).
Theo cách hiểu này, “nghèo được coi như một điều kiện can thiết để con người duy trì cuộc song, liên quan toi các điều kiện vật chất như ăn, mặc, nhà ở và duoc goi là nghèo vật chất”. Khi xã hội đã phát triển tới một mức độ nhất định, mức sống của con người được đánh giá trên rất nhiều các yêu tô khác nhau, thì nghèo không còn chỉ ton tai là nghéo vật chất, mà được mở rộng ra với các khía cạnh mới. Vấn đề nghèo lúc này được tính đến bao gồm cả sự tiếp cận giáo dục, y tế và có chất lượng cuộc sống phải đạt ở mức tối thiểu. Theo cách tiếp cận này, thì nghèo được gọi là nghèo đa chiều.
Như vậy, theo thời gian, quan điểm về nghèo được xây dựng và phát triển từ đơn chiều lên đa chiều. Nghèo vật chất Theo World Bank (1992), nghèo đơn chiều (Unidimensional Poverty) là “tình trạng một người hoặc một hộ gia đình có thu nhập hoặc chỉ tiêu thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định”. Ngoài ra nghèo vật chất còn được định nghĩa là “tinh trạng một bộ phận dân cu không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ ban cua con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của đất nước ”. Nghèo là một khái niệm phức tạp và không chỉ bị tác động bởi sự thiếu thốn về vật chất, mà còn bị ảnh hưởng sâu sắc bởi đặc trưng địa lý của từng vùng miền.
Trong khuôn khổ khái niệm này, nghèo phán ảnh cuộc sống của con người trong hoàn cảnh không đảm bảo được ở mức tối thiêu, thu nhập hạn chế và dễ bị tổn thương trước những biến cố khó khăn. Theo thời gian, các chính sách giảm nghèo dan bộc lộ những hạn chế và thiếu hiệu quả khi thước đo duy nhất chỉ dựa trên thu nhập hay chi tiêu, vì vậy các tiêu chí dé đánh giá chuẩn nghèo tại Việt Nam hay trên thé giới đã ngày một được mở rộng và nâng cao. Nghèo da chiêu Nghèo được biết đến trước tiên là nghèo đơn chiều, hay nghèo vật chất. Tuy nhiên cách nhìn nhận nghẻo chỉ theo chiều thu nhập trên thực tế đã xay ra rat nhiều tồn tai: (i) Nghéo vat chất không phan ánh được một số nhu cầu của con người không chỉ hoặc không thé đo được bằng tiền ( nhu cầu hạnh phúc, nhu cầu bình đăng.), (ii) Nhiều trường hop không nghèo về thu nhập nhưng lai vướng vào nghéo tại một số chiều khác như khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ xã hội.(iii) Xác định chuẩn nghèo theo thu nhập không thé đảm bảo xác định được tất cả các hộ gia đình thuộc diện nghèo.
Do vậy, năm 1997, trong Báo cáo phát triển con người cua UNDP, khái niệm nghéo đa chiều lần đầu tiên được đề cập tới. Theo đó, “nghèo khổ con người chính là sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn dé đảm bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc “có thể chấp nhận được ”. WB (2000) đưa ra khái niệm “nghéo da chiéu: là sự mat di tình trạng ấm no, ấm no có thé có thé được do bằng việc sở hữu của cá nhân về thu nhập, sức khỏe, dinh dưỡng, giáo duc, tài sản, nhà ở và các quyên nhất định trong xã hội như quyển tự do ngôn luận. Nghèo da chiéu còn là sự thiếu hut các cơ hội, thiếu quyên luc, kha năng và tinh trang dé bị tổn thương”.
Cách tiếp cận mới này sé mở rộng phạm vi và bao quát được số lượng các hộ gia đình thuộc diện nghèo đa chiều, hạn chế được tối đa tình trạng bỏ sót các hộ không vướng vào nghèo vật chất nhưng lại bị thiếu hụt các nhu cầu phi vật chất khác. Với khái niệm nghẻo đa chiều, việc tiếp cận tới các đối tượng rơi vào tinh trạng nghèo bao phủ được phạm vi rộng hơn rất nhiều so với trước đây. Đó cũng chính là cơ sở dé các chính sách giảm nghèo của Chính phủ hoạt động một cách có hiệu quả hơn, đời sống của người dân được quan tâm nhiều hơn.2 Bản chất của nghèo đa chiều 1.1 Quan điểm của quốc tế và Việt Nam Có rất nhiều khái niệm về nghèo đa chiều đã được đưa ra trên thế giới. Theo Sen (1983): “nghèo là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”.
Năm 2000-2001, trong báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB, 2000), nghèo được xem xét tới không chỉ bao gồm thu nhập, chỉ tiêu mà còn bao gồm cả các mức độ hưởng thụ cơ bản về giáo dục, y tế, đinh dưỡng và các lĩnh vực khác có liên quan tới phát triển con người. Sau đó, năm 2008 Liên hợp quốc đã thông qua “Nghéo là thiếu năng lực toi thiểu dé tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có du ăn, du mặc, không được di học, không được đi kham, không có đất đai trong trọt hoặc không co nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là sự không an toàn, không có quyên và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đông.
Nghèo có nghĩa dé bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (UN, 2008). Alkire và Foster đã tiến hành nghiên cứu cách đo lường mới với hướng đi tiếp cận khái niệm nghèo đa chiều từ năm 2008. Sau đó UNDP cũng đã giới thiệu chỉ số nghèo đa chiều (MPI) được rút ra trong nghiên cứu này trong các báo cáo phát triển con người năm 2010, đồng thời đề xuất áp dụng thống nhất trên thế giới vào năm 2015. Trong “Báo cáo tình hình phát triển thé giới, tấn công nghèo” năm 2000, WB thừa nhận quan điểm truyền thống về nghèo đa chiều: “ Nghéo da chiều không chỉ bao ham sự khôn cùng về vật chất ( được do lường theo một khải niệm thích hợp vỀ thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo duc và y té”.(WB, 2000) Tại hội nghị về nghèo được tô chức tại Băng Cốc — Thái Lan (1993), Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu A — Thái Bình Dương đã đề cập rang: “Nghéo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cau cơ bản của con người mà những nhu câu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”.
Mặc dù đã xuất hiện tại Châu Á, tuy nhiên khái niệm này chưa được áp sát vào thực tế tại Việt Nam. Phải tới năm 2013, công cuộc tiếp cận nghèo đa chiêu mới được triên khai cụ thê thông qua những văn bản chính sách của nhà nước. Năm 2015, dé án tông thé “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận do lường nghèo từ đơn chiều sang da chiêu áp dụng cho giai đoạn 2016-2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, xây dựng dựa trên cả về chuẩn thu nhập và mức độ thiêu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản.1: Xem xét về bản chât của nghèo đa chiêu trên một vài quan điêm Khía cạnh „ UNDP(1997) WB(2000) UN(2008) Viét Nam(2015) xem xét Vat chat Khó khăn Thu nhập và chi Điều kiện sống Thu nhập dưới trong tiếp cận | tiêu ở đưới mức | đưới ngưỡng mức chuẩn nghèo các nguồn lực | cơ bản cơ bản thu nhập được áp tư nhân và xã dụng hội Giáo dục | Thiếu bậc Sự thiếu hụt cả | Sự thiếu hụt ca | Tiếp cận giáo dục giáo dục phố | về y tế và giáo | về y tế và giáo | thấp cập dục dục Y tế Tuổi thọ thấp -Gặp khó khăn khi cận dịch vụ y tế (DVYT) - Bảo hiểm y tế không được cung cấp đầy đủ Chất lượng | X - Dễ tốn thương | - Sự không an | - Diện tích nhà ở cuộc sông trước những toàn, không có bình quân đầu biến cố cuộc quyền và bị người dưới mức sống loại trừ của các quy định cá nhân, hộ gia - Tự ti, mặc cam - Thiếu nước sạch đình và cộng khi khéng c6 sinh hoạt đồng. tiếng nói trong -Nhà vệ sinh cộng đồng - Là nạn nhân không đạt chuẩn của bạo hành -Khó khăn trong - Phải sống tiếp cận thông tin ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro - Không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh đạt chuẩn Nguồn: Sinh viên tổng hợp từ UNDP(1997), UN(2008), WB(2000), Bộ LDDTB&XH(2015) Dựa vào sự đối chiếu so sánh tại bang 1.1, ta có thé thay bản chất của nghèo đa chiều đã và đang dần được hoàn thiện theo thời gian sao cho phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế- xã hội.