Chương 1: Cơ sở lý luận về quan lý thu thuế tại các cơ quan thuê 1. Một số van đề cơ bản về thuế 1. Khái niệm về thuế Thuế trên thực tế đã tồn tại từ khi các Nhà nước hình thành, song các lý luận về kinh tế của thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Theo các nhà kinh điền thì thuế được quan niệm rất đơn giản.
Các - Mác đã chi rõ: “Đề duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuê mã. Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chỉ tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”. Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn “Kinh tế học” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy như sau: “Thuế là một khoản chuyền giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyền giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”.
Một định nghĩa về thuế được cho là tương đối cổ điển đó là: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”. Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: “Thué là hình thức phân phối và phân phối lại tong sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhăm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước đề đáp ứng các nhu cầu chỉ tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Chuyên dé thực tập tốt nghiệp Sinh viên Triệu Thị Minh Hoa Thuế, ở góc độ của người nộp thuế, là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức hay cá nhân có nghĩa vụ thực hiện dé dap ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước dé Nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ. Ở góc độ kinh tế học, thuế có thể được coi là một biện pháp đặc biệt.
Nhà nước chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công bằng cách sử dụng quyền lực của mình. Việc này nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước. Theo nghĩa rộng, thuế là một hình thức trích nộp bắt buộc đặc biệt do những người nộp thuế đóng góp. Tuy nhiên, quan niệm như vậy về thuế vẫn chưa thực sự đầy đủ.
Thật vậy, ngày nay không chỉ có thuế là hình thức trích nộp bắt buộc duy nhất như trước đây nữa. Do đó, trước tiên cần phải phân biệt giữa thuế và những hình thức trích nộp bắt buộc khác không có tính chất thuế, đồng thời xác định rõ bản chất của thuê. Tiếp đó, dé khái niệm về thuế được đưa ra một cách đầy đủ nhất, cần phải dựa trên cơ sở nghiên cứu các phương thức phân loại thuế và các cơ chế chung của việc đánh thuế. Có những khái niệm cơ bản về thuế như sau: Thuế là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc theo quy định của pháp luật nhằm hình thành ngân sách nhà nước; Thuế là khoản hình thành trong quá trình phân phối bao gồm phân phối lại sản phẩm xã hội, phân phối lại thu nhập quốc dân.
Như vậy nhìn chung có thé hiéu rằng: Thuế là một khoản chuyên giao thu nhập bắt buộc từ các thé nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo các mức độ mà pháp luật quy định. Đặc điểm của thuế Khái niệm về thuế có thể khác nhau bởi vì được đưa ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau. Tuy vậy, bao giờ cũng tồn tại những đặc điểm nhất định ở thuế. Chúng ta có thể nhận diện thué trong tài chính dựa vào các đặc điểm của nó.
Dưới đây là một vai đặc điểm tiêu biéu của thuế: Thuế mang tính bắt buộc: Tính bắt buộc của thuế thể hiện đối với người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyên giao tài sản của họ cho Nhà nước khi có đủ điều kiện mà không phải là quan hệ thanh Chuyên dé thực tập tốt nghiệp Sinh viên Triệu Thị Minh Hoa toán đù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Các cơ quan thu thuế không được phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế khi thay mặt Nhà nước thực hiện các hành vi nhất định, cơ quan thuế cũng không được có sự phân biệt đối xử đối với người nộp thuế. Đặc tính này là một trong những dấu hiệu quan trọng dé có thé phân biệt thuế với các hình thức động viên tài chính khác của Ngân sách Nhà nước. Có nhà kinh tế học cho rằng: “Thuế khác với đa số những khoản chuyền giao tiền từ người này sang người kia: Trong khi tất cả những khoản chuyền giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc”.
Có những lý do sau dé giải thích cho của việc chuyền giao thu nhập: Thứ nhất, hình thức chuyền giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thé sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc chuyển giao. Nhà nước dé đảm bảo nhu cau chi tiêu công cộng, phải sử dụng quyên lực chính trị để bắt buộc mọi đối tượng có thu nhập phải chuyền giao. Thứ hai, có thể thấy rằng trong xã hội hiện đại, nhu cầu sử dụng hàng hóa công cộng của người dân đang tăng dần. Rõ ràng là phần lớn nguồn cung của những hàng hóa này đến từ Nhà nước.
Vì thé mà, thu nhập về hàng hóa công cộng từ những người thụ hưởng phải đủ dé bù đắp chi phí bỏ ra, có thỏa mãn được điều này thì mới có thể duy trì hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng. Tuy nhiên phải bàn tới rằng, hàng hóa công cộng không thể phân bồ theo khẩu phan dé sử dụng, và những người thụ hưởng nó cũng không muốn sử dụng theo khẩu phan. Bên cạnh đó, một đặc điểm của hàng hóa công cộng là không có tính cạnh tranh và không thé bù đắp chi phí bằng cách đem trao đổi trực tiếp trên thị trường. Chính vì vậy đã xuất hiện những “người ăn không”, đó là những người không tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng hàng hóa công cộng.
Do đó, dé buộc tat cả mọi người, bao gồm cả “những kẻ ăn không” phải chuyền giao thu nhập của mình sang khu vực công, Nhà nước đã sử dụng thuế. Phương pháp này đồng thời duy trì và đảm bảo việc cung cấp hàng hóa công cộng. Tuy nhiên, tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là hành động đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi có biểu hiện phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Từ đặc trưng này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách Nhà nước như phí, lệ phí, công trái, hoặc hình thức phạt băng tiền.
Thuê gan liên với quyền lực của Nhà nước: 6 Chuyên dé thực tập tốt nghiệp Sinh viên Triệu Thị Minh Hoa Ở mọi đất nước, thuế đều gan liền với quyền lực của Nhà nước. Tại Việt Nam, Luật thuế có thé được quy định, sửa đôi hoặc bãi bỏ bởi Quốc hội. Đặc điểm này thể hiện thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao. Để bắt buộc các công dân “tự nguyện” nộp thuế thì Nhà nước phải sử dụng đến quyền lực của mình, quyền lực ấy được thể hiện bằng luật pháp.
Nhà kinh tế học Joseph E. Stiglitz nói rằng: “Việc chuyền giao bắt buộc này giống như là ăn trộm, chỉ có một điểm khác chủ yếu là: trong khi cả hai cách chuyển đều là không tự nguyện, thì cách chuyên qua Chính phủ có mang tắm áo choàng hợp pháp và sự tôn trọng do các quá trình chính tri ban cho”. Mang tinh không hoàn trả trực tiếp: Thuế không phải là khoản phải trả khi người nộp thuế đã nhận được một lợi ích hay quyền lợi cụ thé nào từ phía Nhà nước. Sự chuyền giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá.
Như vậy tóm lại, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ trực tiếp cho người nộp thuế. Chức năng của thuế Chức năng của một phạm trù kinh tế phản ánh bản chất sự tác động của nó. Có ý kiến cho răng: “Thuế không những là một phạm trù kinh tế, mà còn là phạm trù tài chính. Do đó, thuế không chỉ mang trong mình những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính, mà còn biểu hiện những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng có bắt nguôn từ tông thê các môi quan hệ tài chính”.
Cho đến nay trên các sách báo kinh tế trong nước cũng như trên thế giới cũng chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng của thuế và tên gọi của chúng. Có tác giả đưa ra hai chức năng của thuế là chức năng ngân khé và chức năng kinh tế. Người khác lại cho rằng thuế có ba chức năng: ngân khó, kiểm tra và phân phối thu nhập, trong đó chia chức năng phân phối thu nhập thành nhiều chức năng nhỏ hơn bao gồm cả nội dung kích thích kinh tế. Trong chức năng kinh tế của thuế, một số tác giả lại chia chức năng này thành các tiêu chức năng và chúng lại được xem xét với tư cách là một chức năng độc lập: điều chỉnh, kích thích, phân phối thu nhập và chức năng ngân khó.
Một số tác giả khác còn đưa ra chức năng xã hội của thuế với tư cách là một chức năng độc lập phản ảnh bản chất xã hội của thuế. Chuyên dé thực tập tốt nghiệp Sinh viên Triệu Thị Minh Hoa Cũng cần phải nhận xét rằng, từ các chức năng kể trên, căn cứ vào nội dung có thê gộp chúng thành một số chức năng cơ bản, bởi vì cùng một chức năng nhưng chúng có thé được gọi với những tên khác nhau. Chang hạn, chức năng điều chỉnh có thé được gọi là chức năng kinh tế hoặc chức năng kích thích; chức năng ngân khố thỉnh thoảng được gọi là chức năng thu ngân sách.