Chương 1: Tổng quan về huy động vốn tại Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam Chi nhánh Thủ Đô Chương 3: Giải pháp mở rộng huy động vốn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam Chi nhánh Thủ Đô Do kiến thức cũng như kinh nghiệm của em còn nhiều hạn chế, bản Chuyên đề thực tập của em sẽ mac phai nhiéu sai sot. Em hi vọng nhận những nhận xét từ Cô Đỗ Hồng Nhung và các thầy cô trong Viện Ngân hàng Tài chính Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đề bản Báo cáo này của em được hoàn thiện nhất Em xin chân thành cảm on! Hà Nội, tháng 10/2018 Sinh viên thực hiện Nguyễn Quang Duy CHUONG I: TONG QUAN VE HUY ĐỘNG VON TẠI NGAN HANG THUONG MAI 1. Nguồn vốn của NHTM 1. Khái niệm Theo giáo trình NHTM của trường Kinh tế Quốc dân: ngân hàng có vai trò “Là nơi tập trung nguồn vốn tạm thời nhàn roi trong nên kinh tế nhằm trở thành cầu nối chuyển nguôn vốn này tới những nhà dau tư có nhu cau về vốn, đẩy nhanh sự phát triển của nên kinh té”.
Theo pháp lệnh “NH, HIX tín dụng và công ty tài chính” ban hành ngày 24/05/1990: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiễn tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiễn đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khẩu và làm phương tiện thanh toán”. Theo luật “Các tô chức tin dụng” ban hành 26/12/1997: “NHTM là một doanh nghiệp thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng đó là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiễn gửi, sử dụng số tiễn này dé cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán”. Vậy ”Vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tién ngân hàng tạo lập và huy động được dé cho vay, dau tư hay đáp ứng các nhu câu khác trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình). Vốn là yếu tố cần giúp các NHTM có thê hoạt động, đưa ra được quy mô hoạt động và hình thành vị thế của NH.
Cơ cầu nguồn vốn kinh doanh của NHTM 1. Vốn tự có Ta có thể biết, vốn tự có là một phần nguồn vốn của NH mà có thê sử dụng lâu đài, trong đó bao gồm một số khoản mục thuộc VCSH và một số khoản mục khác thuộc Nợ phải trả dài hạn. Ta có công thức: “Vốn tw có = Von cấp 1 + Vốn cấp 2” Trong đó: Vốn cấp 1 bao gồm: + Vốn điều lệ + Quy dự trữ bổ sung vốn điều lệ + Lợi nhuận không chia + Quỹ phát triển nghiệp vụ + Thặng dư vốn cô phần Vốn cấp 2 bao gồm: + 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định + 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính + Quỹ dự phòng tài chính + Dự phòng chung + Trái phiếu cho TCTD phát hành thoả mãn những điều kiện nhất định «Tổng giá trị vốn cấp 2 < Giá trị vốn cấp 1” Vốn nay mặc dù sở hữu cơ cầu không lớn trong tổng số vốn nhưng là yếu tổ tiên quyết về mặt pháp luật nếu muốn thành lập NH. Gồm có: + Theo các cơ quan quản lý NH: “Vốn điêu lệ là mức vốn góp của các thành viên trong NH và được ghi ở điều lệ của NH, mức tối thiểu phải bằng mức vốn pháp định.
Đây là điều kiện cần để cho NH có thể thành lập và di vào hoạt động. Khi có van dé gì xảy ra thì moi thành viên trong NH phải chịu trách nghiệm với đúng số vốn góp ghi trong điều lệ của NH.” Nhưng với mỗi loại hình NHTM không giống nhau thì vốn điều lệ tạo lâp theo những cách trái khác nhau. Ví dụ NHTM CP thi vốn điều lệ được góp bởi các cô đông, với NHTM quốc doanh thì vốn điều lệ được cấp bởi NSNN,. Vốn điều lệ được coi như căn cứ pháp lý cho việc thành lập NH cũng như là yếu tố khang định uy tín, năng lực NH.
+ Theo các cơ quan quan lý NH: “Vốn tur có bổ sung là nguôn tiền được hình thành từ các quỹ như quỹ dự phòng bù đắp rủi ro, quỹ dự trữ bồ sung vốn diéu lệ và lợi nhuận không chia). Vẫn huy động Theo Frederic.Mishkin (2013): “Vốn huy động của NHTM là giá trị tiền tệ của các NHTM sử dụng các nghiệp vụ huy động vốn trên thị trường nhằm thu hút vốn của các cá nhân, tổ chức trung gian,. ” Đây được coi là nguồn vốn đạt khối lượng cao hơn cả trong cơ cấu nguồn vốn tại NHTM. Trên thực tế, nó được huy động chứ không phải VCSH của NH, nhưng NH có thể sử dụng chúng một cách hợp pháp trong một thời hạn cho phép.
Để có được quyền hạn này, NH phải thanh toán cho người gửi tiền, một khoản lợi tức được tới những người mua trái phiếu mà ta còn thường hay nói là chỉ phí đi vay hoặc chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn. Nhưng bù lại, Nh sẽ thu được những khoản tiền lãi mà NH cho các cá nhân tổ chức vay vốn. Bên cạnh đó, NH còn có trách nghiệm thanh toán chuẩn thời hạn khoản tiền vay như những gì đã được ký kết trước đó giữa khách hang với NH. Yêu cầu về vốn đối với thị trường là vô cùng lớn, mà NHTM là pháp nhân không thé không có tại tiến trình cung cấp vốn cho thị trường.
Như vậy, nhằm thỏa mãn các nhu cầu to lớn về nguồn vốn xã hội, NH đã sử dụng hàng loạt các nghiệp vụ huy động vốn đa dang và theo nhiều yếu tố khác nhau chúng ta có thé chia ra thành các loại: + Phân loại theo kỳ hạn: Vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. + Phân loại theo khách hàng: Huy động từ các TCKT, dân cu, NH và các TCTD khác. + Phân loại theo nghiệp vụ nhận tiền gửi: Huy động qua nghiệp vụ nhận gửi, huy động qua nghiệp vụ đi vay, huy động qua phát hành các giấy tờ có giá. Với tính phong phú về các phương thức thu hút nguồn vốn, NH đã tập hợp được lượng vốn không hé nhỏ từ nhiều nguồn vốn hiện chưa sử dụng đến trong nền kinh tế nhằm trở thành kênh điều phối vốn đó vào các hoạt động tăng trưởng kinh tế.
Có thé thấy, qua những gi chúng ta đã nói trên ta nhận thấy vai trò như một mắt xích không thể thiếu của nguồn VHD với hoạt động NH. Bởi lẽ nó chiếm phan trăm lớn hơn cả tai cơ cấu nguồn vốn NH nhưng cũng là nguồn vốn thường xuyên và cơ bản dé NH xử lý các nghiệp vụ về tín dụng và tạo doanh thu. Vốn vay Theo Eward.Reed và Eward.Gill (2004): “Là von được hình thành thông qua việc NH đi vay trên thị trường tiền tệ. Được thực hiện bằng các nghiệp vụ đi vay như vay giữa NHTM với NHTW hoặc vay các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.
Nhằm duy trì hoạt động hoặc đảm bảo khả năng thanh khoản của NH.” Trong nhiều tình huống, khi bị hạn chế trong sức huy động vốn thì việc dùng nghiệp vụ đi vay nhằm thỏa mãn được những yêu cầu về mặt thanh khoản. Về bản chất vẫn là một doanh nghiệp, các NH vẫn có những lúc dư thừa về nguôn lực hay tạm thời thiếu nguồn lực. Nhưng khác với các doanh nghiệp bình thường, khi chi nhánh phát sinh trạng thái tạm thời dư thừa nguồn lực thì các chi nhánh sẽ thực hiện lưu chuyền nguồn lực về NH cấp cao hơn và dây gọi là nghiệp vụ hoạch toán ngành. Và khi nói đến vấn đề cho vay giữa NHTW và cá NHTM, NTHW là NH của NHTM, là cơ quan cho vay khi không còn đơn vi nào cho vay nữa, điều phối các hành vi của các NHTM, chính vì thế khi NHTM muốn vay vốn thì NHTW sẽ xem xét cho vay.
Theo giáo trình Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ (2016): “Việc cho vay của NHTW với NHTM dựa trên hình thức chiết khấu, chiết khẩu thương phiếu, tái cấp vốn theo hạn mức nhất định, tái chiết khẩu các thương phiếu và các giấy tở có giá ngắn hạn khác”. Vì là giải pháp cuối cùng cũng như các biện pháp của NHTW. Chuyện vay vốn của NHTW hoặc các TCTD khác là bất đắc dĩ lắm mới phải vay vì chi phí lớn hơn chi phí khi đi huy động từ các nguồn khác. Từ đó dẫn đến hiệu quả tất yếu về mặt kinh tế là không cao khi NHTM dùng nguồn vốn vay này, nhưng nó là một phần không được bỏ di trong cấu trúc nguồn vốn của NHTM.
Nó được sử dụng khi NH có nhu cầu lớn về thanh khoản mang tính chất thời điểm, nhất thời. Ta thường gọi nghiệp vụ này là “vay qua đêm”. Vai trò của vốn với NHTM Trong khi nước ta đang hướng tới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, vai trò của NHTM là khá to lớn và không phủ nhận được trong công đoạn phát triển KT-XH. Càng ngày các NHTM thuộc sở hữu của nhà nước ngày càng giảm, thay vào đó là các NH cổ phan, các NH nước ngoài,.
Một phần đã giảm bớt gánh nặng với NSNN và đặc biệt các NH tự động chuyển mình, sáng tạo và phát triển đa dạng dé bắt kịp xu thế. Mà vốn là yếu tô quyết định tới bản chat của NHTM, vì thế vốn trở nên có vai trò tiên quyết tới nền kinh tế của đất nước. Cơ sở để Ngân hàng tổ chức các hoạt động kinh doanh Cùng đa số các DN, dé có thé đi vào hoạt động tốt và ôn định thì yếu tố về vốn trở nên không thé tách biệt được, vốn của doanh nghiệp được coi như năng lượng trong cơ thé mỗi con người, khi lượng năng lượng này ôn định và déi dao thì con người mới có thé hoạt động một cách linh hoạt và mượt mà. Ngân hang cũng không phải ngoại lệ, khi không có vốn NH không thê kinh doanh được, thiếu nguồn lực để cạnh tranh cũng như duy trì uy tin của đơn vi tại thị trường.
Như chúng ta đã cùng phân tích bên trên, vốn tự có là cơ sở pháp lý trong việc hình thành và đi vào hoạt động cua NH nó được coi như điều kiện cần của NH dé hoạt động và phát triển, sau đó khi đã tiến vào quá trình hoạt động thì yếu tố về vốn được huy động chiến vai trò tiên quyết tới uy tín, định hướng phát triển, quy mô của NH từ đó tác động tới thu nhập của NH.