Chương I: Tổng quan về xử lý nước thải làng nghề Chương II: Hiện trạng sản xuất và các vấn đề môi trường tại làng nghề Dương Liễu. Chương III: Vận dung CBA đề đánh giá hiệu quả hoạt động của nhà máy XLNT làng nghề Dương Liễu. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả quý Thầy Cô Khoa Môi trường và Đô thị , những người đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo cho tôi những kiến thức cơ bản, những bài học, những kinh nghiệm quý báu đê tôi có thêáp dụng những kiến thức đó trong quá trình thực tập và viết chuyên đề. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên ThS.
Nguyễn Quang Hồng, người đã tận tình hướng dan tôi trong suốt thời gian thực tập. Sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của thầy giúp tôi hoàn thành tốt hơn bài báo cáo, giúp tôi nhận ra sai sót cũng như tìm ra hướng đi đúng hơn trong quá trình hoàn thiện chuyên đề. Tiếp theo, tôi xin cảm ơn đến Công ty Cổ phần đầu tư phát triển môi trường SFC Việt Nam đã cho tôi có cơ hội thực tập tại công ty, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong thời gian tôi thực tập và cho tôi những lời khuyên dé hoàn thành tốt hon bài báo cáo thực tập. Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt chuyên đề thực tập của mình.
Do thời gian thực tập ngắn và kiến thức của tôi còn hạn chế nên bài chuyên đề tốt nghiệp này còn gặp nhiều sai sót, mong thay cô thông cảm và góp ý dé tôi có thé rút nhiều kinh nghiệm hơn cho bản thân, có một hành trang tốt hơn sau khi ra trường. Tôi xin chân thành cảm ơn! 10 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là đo bản thân thực hiện, không sao chép, cat ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác; nêu sai phạm tôi xin chịu ky luật với Nhà trường. Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2017 Sinh viên thực hiện Vũ Thị Yến 11 CHUONG I: TONG QUAN VE XỬ LÝ NƯỚC THAI LANG NGHE 1. Lang nghề và các đặc trưng của làng nghề 1.
Khái niệm Khái niệm “làng nghề” thường được bắt gặp khá nhiều trên các phương tiện truyền thông như: sách, báo, phương tiện thông tin đại chúng. Dé có một kết luận giải thích chặt chẽ về khái niệm “làng nghề”, ta đi từ các khái niệm “làng” và “nghề”. “Làng” là một bộ phận nhỏ nhất trong hệ thống hành chính nước ta trước đây và ngày nay. “Làng” được phân chia theo cụm dan cư, có phân chia người đứng đầu, thuận tiện trong việc quản lý của chính quyền địa phương và nhà nước.
Trong làng, ngoài nghề nông, hầu hết các hộ gia đình đều làm thêm một hay nhiều nghề vào khoảng thời gian nông nhàn. Nghề phụ này cũng là đối tượng đem lại nguồn thu nhập chính trong nhà. Có thể coi là nghề thì nghề đó phải tạo ra được khối lượng sản phẩm tương đối và có điểm khác biệt trên thị trường, đem lại thu nhập chủ yếu cho hộ gia đình. Theo Thông tư 46/201 1/TT-BTNMT: “Lang nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điêm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, phường, thị tran (sau đây gọi chung là cấp xã) có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất tiểu thủ công nghiệp sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.” Thông tư 116/2006/TT-BNN đưa ra 03 tiêu chí để công nhận làng nghề: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ồn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. - Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Như vậy, không phải bat kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng gọi là làng nghề mà cần tuân theo một số tiêu chuẩn nhất định. Các đặc trưng của làng nghề Việt Nam 1.
- Trình độ công nghệ Sự sản xuất của làng nghề Việt Nam hầu hết đều mang tính truyền thống, tồn tại từ lâu đời. Công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu. Công cụ lao động đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc. Nhiều loại sản phẩm có kỹ thuật cao hoàn toàn phải dựa vào công cụ lao động chính là bàn tay của người thợ mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn 12 trong sản xuất sản phẩm.
Vì thế năng suất lao động thấp, quy mô sản xuất nhỏ, tiêu hao nguyên liệu lớn. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, được Đảng và nhà nước đầu tư khuyến khích, các làng nghề nông thôn Việt Nam đã có những bước chuyền mới về công nghệ , cải tiến theo hướng hiện đại hóa công nghệ truyền thống. Theo kết quả điều tra của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cho thấy 37% các doanh nghiệp ở nông thôn đã có những thay đổi về công nghệ, từng bước cơ khí hóa trong sản xuất. Trong những năm gần đây, các làng nghề đã chú trọng đầu tư máy móc, thiết bị cho sản xuất.
Tuy nhiên tốc độ đầu tư còn chậm, mặt bằng sản xuất chưa được mở rộng, chủng loại mẫu mã hàng hóa chưa phong phú, đa dạng. Kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu, phần lớn là thủ công. Cũng đã có nhiều nơi mua lại công nghệ của nước ngoài nhưng hầu hết là công nghệ đã qua sử dụng, công nghệ đã cũ nên năng suất và chất lượng, hàm lượng công nghệ của sản phẩm không cao, sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường không lớn. Mặt khác, tính bảo thủ, trì trệ về kỹ thuật còn khá phô biến trong các làng nghề do thiếu thông tin, thiếu kiến thức và nguồn vốn hạn hẹp.
Nhìn chung, công nghệ sản xuất của các làng nghề nông thôn Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế: - Trình độ công nghệ ở nông thôn còn thấp, sự thay đổi công nghệ còn diễn ra chậm, hau hết là lao động giản đơn, sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, điều kiện làm việc khó khăn nhưng giá thành sản phẩm không cao. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường còn hạn chế. - Đổi mới công nghệ chưa chú ý tới van đề bảo vệ môi trường và an toàn lao động. - Đổi mới công nghệ chưa đồng bộ hoàn toàn.
Chi tập trung đổi mới một số khâu chính. -_ Chưa có sự quan tâm và triển khai công nghệ sản xuắt, kết cấu hạ tang cho người dân của đội ngũ cán bộ và đội ngũ nghiên cứu. Những hạn chế trên đã gây ảnh hưởng lớn tới sự phát triển chung của làng nghề tác động nghiêm trọng đến môi trường làng nghé. Trình độ quản lý, tổ chức sản xuất Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân nhưng chưa nhiều.
Hộ gia đình là một đơn vị cơ bản của sản xuất trong các làng nghề nông thôn, nguồn nhân lực chủ yếu là các thành viên trong gia đình với cơ sở hạ tầng sẵn có. Những nghề sản xuất đơn giản, ít công đoạn thì một hộ gia đình có thé đảm bảo được sản xuất từ công đoạn đầu tới công đoạn cuối của sản phẩm. Các sản phẩm truyền thống phức tạp, càng có nhiều công đoạn và chỉ phí cho một công đoạn càng lớn thì càng dễ được chuyên môn hóa. Mỗi gia đình chỉ cần thực hiện một công đoạn của quá trình sản xuất.
13 Việc quy hoạch, định hướng phát triển cho làng nghề của các tỉnh còn chậm, nhất là việc quy hoạch mặt bằng cho sản xuất, quản lý nhà nước còn lúng túng, thiếu chặt chẽ. Do các chỉ tiêu về làng nghề chưa có quản lý chặt chẽ và đầy đủ, nên đã gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các làng nghề. Tw khâu nguyên liệu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm đều do cá nhận và các hộ trong sản xuất tự lo liệu. Đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ.
Hau hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có của nguồn nguyên liệu tại chỗ, trên địa bàn địa phương. Cũng có thể có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước ngoài như một số loại chỉ thêu, thuốc nhuộm. song không nhiêu. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp.
Bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương. Ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề. Cho đến nay, thị trường làng nghề về cơ bản vẫn là các thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh và một phần cho xuất khẩu. Dẫn đến làng nghề nào tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm thì tồn tại và tiếp tục được phát triển.
Ngược lại, những làng nghề không tiếp cận được thị trường gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì và phát triển làng nghề, dần dần các làng nghề truyền thống bị mai một, một số làng nghề không còn tồn tại. Chính hình thức tổ chức sản xuất đơn lẻ ở quy mô hộ gia đình đã gây ra nhiều khó khăn cho chính quyền địa phương trong quản, cung ứn nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm. Đặc biệt, khó khan trong việc quản lý quản lý chất lượng nước thải của mỗi hộ gia đình trước khi thải vào môi trường. Sản phẩm và quy mô sản xuất Sản phẩm của làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.
Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thấm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở nhà nước.