CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CHÍNH THỂ Ở PHAN BỘI CHÂU TRƯỚC NĂM 1917 Khái niệm về chính trị, chính thể Chính trị là lĩnh vực hoạt động được coi là ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ đời sống xã hội.Lênin cho rằng: “Chính trị là sự tham gia vào những công việc nhà nước, là việc vạch hướng đi cho nhà nước, là việc xác định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước” [45, 404]. Chính trị gắn chặt với những hoạt động của xã hội có giai cấp, nó thể hiện lợi ích của mỗi giai cấp, của mọi người trong xã hội. Trong chính trị thì vấn đề thể chế chính trị là một trong những nội dung chính yếu nhất. “Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức vận động của một chế độ chính trị, là hình thức thể hiện các thành tố của hệ thống chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, là cơ sở chính trị - xã hội quy định tính chất, nội dung của chế độ xã hội nhằm bảo vệ quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền” [59, 19].
“Trong thể chế chính trị thì thể chế nhà nước là quan trọng nhất, bởi vì, người ta thường căn cứ chủ yếu vào hình thức chính thể nhà nước – căn cứ vào hình thái biểu hiện của thể chế nhà nước để phân loại các thể chế chính trị. Tên gọi của hình thức chính thể nhà nước cũng chính là tên gọi của thể chế chính trị” [59, 21]. Hình thức nhà nước là phạm trù được quan tâm đầu tiên trong hoạt động tổ chức chính trị, bởi nó chứa đựng nội dung hình thức chính thể. Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức và thiết chế quyền lực nhà nước.
Hình thức nhà nước được chia làm 3 bộ phận: Hình thức chính thể, chế độ chính trị, và hình thức cấu trúc nhà nước. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hình thức chính thể là sự tổ chức quyền lực nhà nước tối cao, những cơ quan của quyền lực tối cao đó, cơ cấu và trình tự thiết lập những cơ quan ấy, mối quan hệ qua lại của chúng với nhân dân và mức độ tham gia của nhân dân vào quá trình thành lập những cơ quan đó. Có thể dựa vào hai tiêu chí: Quá trình thành lập cơ quan nhà nước tối cao (nguyên thủ quốc gia) bằng con đường nào và sự tham gia của nhân dân vào quá trình ấy và cũng như quyền lực nhà nước mà có thể chia làm 2 loại chính thể : Chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. Trong chính thể quân chủ, vua được thành lập bằng con đường thừa kế thế vị, mà nhân dân không được tham gia bầu cử.
Còn trong chính thể cộng hoà thì nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra nguyên thủ quốc gia bằng con đường bầu cử tự do. Hình thức chính thể bị quy định bởi chế độ chính trị: Nói về mục đích của chế độ nhà nước là gì? những biểu hiện cụ thể thông qua hệ thống tổ chức hoạt động như thế nào. Chế độ chính trị được chia làm hai loại: Dân chủ và phi dân chủ, chuyên chế độc tài. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của quần chúng nhân dân.
Tư tưởng chính trị là sự phản ánh những quyền lợi của các giai cấp, các lực lượng xã hội và những hoạt động xã hội khác để bảo vệ các quyền lợi ấy. Ở Việt Nam, những quan niệm chính thể chính trị trên được hình thành là một quá trình đấu tranh, xây dựng lâu dài của các nhà tư tưởng và lịch sử đấu tranh của dân tộc. Và Phan Bội Châu là một trong những người hoạt động cách mạng đầu tiên đưa ra những tư tưởng chính thể chính trị tiến bộ ấy vào thực tiễn, dù là ở mức độ hạn chế. Bởi vì, ông xác định rằng muốn làm cách mạng thành công thì “trước hết phải chọn chủ nghĩa cho vững vàng” [9, 156].
Vấn đề chính 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể là tư tưởng được Phan Bội Châu đề cập rất nhiều lần, ông đã từng xác định: “Phải xóa bỏ chính thể quân chủ, vì đó là một chính thể rất xấu xa vậy” [8, 135]. Trong tôn chỉ của Việt Nam Quang Phục Hội do Phan Bội Châu xây dựng đã khẳng định: “Chính thể dân chủ cộng hòa là một chính thể rất tốt đẹp” [8, 135]. Để thấy được đóng góp của Phan Bội Châu trong lĩnh vực này trước hết chúng ta khảo sát khái lược lịch sử vấn đề chính thể tại Việt Nam đến đầu thế kỷ XX. Lược sử chính thể ở Việt Nam đến đầu thế kỷ XX 1.
Lược sử chính thể ở Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược Sự ra đời của công xã nông thôn và nhu cầu thủy lợi, tự vệ đã đưa đến sự hình thành lãnh thổ chung và tổ chức nhà nước đầu tiên của Việt Nam là nhà nước Văn Lang vào khoảng thế kỷ thứ VII, thứ VI TCN. Sau đó là nhà nước Âu Lạc khoảng đầu thế kỷ III TCN. Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc tổ chức theo chế độ lạc hầu, lạc tướng, đứng đầu Nhà nước là vua: Thủ lĩnh của liên minh các bộ lạc Việt theo chế độ thừa kế thế vị, nhà vua sống rất gần gũi, chan hoà với dân chúng. Trong triều có các lạc hầu giúp vua cai quản đất nước, ở địa phương do các lạc tướng đứng đầu quản lý.
Trong thời kỳ này, phân tầng giai cấp chưa rõ, mâu thuẫn xã hội còn hoà dịu, do đó nó còn mang đậm tính sơ khai của nhà nước. Từ khi Triệu Đà xâm lược năm 179 TCN và tiếp theo là các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ, nhà nước Văn Lang - Âu lạc bị biến thành quận huyện của nhà nước phong kiến Trung Quốc. Chế độ lạc hầu, lạc tướng bị xoá bỏ và được tổ chức lại theo kiểu nhà nước phong kiến Trung Quốc ở bộ máy trung ương. Theo đó mà hệ tư tưởng Nho giáo tìm cách thâm nhập vào Việt Nam bắt đầu từ những thế kỷ đầu công nguyên nhằm đáp ứng nhu cầu cai trị của phong kiến Trung Quốc đối với nước ta.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nho giáo – hệ tư tưởng của chính thể quân chủ chuyên chế phương Đông “Nho giáo là sự tổng hợp những tư tưởng, triết lý, luân lý, đạo đức và thể chế cai trị ở Trung Quốc có từ những thế kỷ VI – V TCN” [63, 79] do Khổng Tử (551 – 479 TCN) sáng lập, sau đó được Mạnh Tử (372 – 289 TCN), Đổng Trọng Thư (thế kỷ II TCN), Chu Đôn Di (1017 - 1073), Chu Hy (1130 - 1200)… kế thừa và phát triển cho phù hợp với chế độ phong kiến mỗi thời kỳ, hình thành các loại Hán Nho, Tống Nho. Nho giáo xây dựng mô hình nhà nước quân chủ tập quyền chuyên chế phương Đông. Bên cạnh đó, Nho giáo chủ trương dùng “Nhân trị”, “Đức trị” là cách thức điều hành xã hội. Khổng Tử rất chú trọng điều đó: “Dùng đạo đức làm đường lối chính trị thì như là sao Bắc cực ở một chỗ nhất định mà các sao khác đều vây quanh” (Tử viết vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi.
Luận Ngữ - thiên Vi Chính) [17, 60]. Nho giáo chủ trường xây dựng một xã hội với các nguyên tắc “tam cương, ngũ thường” theo đẳng cấp thứ bậc, mỗi thứ bậc có danh riêng và mỗi người phải “chính danh” thực hiện bổn phận theo điạ vị của mình: “Vua ra vua, bề tôi ra bề tôi, cha ra cha, con ra con” (quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử, Luận ngữ - thiên Nhan Uyên) [17, 42], như thế xã hội mới ổn định. Nho giáo phù hợp với các nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ở phương Đông, vì chủ trương bề tôi phải phục tùng tuyệt đối vua chúa. Đến thời Hán, Tống Nho về sau thì qui tắc ấy càng thêm nghiệt ngã “vua khiến bề tôi chết mà bề tôi không chết là bất trung, cha khiến con chết mà con không chết là bất hiếu” (quân sử thần tử, thần bất tử bất trung.
Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu) (Nhị trình nhị thư – cuốn 22). Con người lý tưởng của Nho giáo là con người theo khuôn mẫu quân tử, dùng phẩm hạnh đạo đức để thu phục nhân tâm, cai trị xã hội. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tư tưởng “Thần dân” Nếu như Nho giáo Tiên Tần (Nho giáo nguyên thủy) còn ít nhiều chứa đựng các yếu tố thân dân, nhân bản, nền cai trị lấy Nhân Chính làm mực thước, thì từ Hán, Tống Nho trở về sau có sự pháp điển hóa, thể chế hóa. “pháp luật” hóa các quan niệm Lễ trị - Đức trị - Nhân trị đó theo xu hướng ngày càng nghiệt ngã, xơ cứng.
Tuy nhiên, trong thời kỳ nước ta bị lệ thuộc phong kiến phương Bắc hàng nghìn năm, với ý chí độc lập nhân dân ta đã không ngừng nổi dậy chống lại phong kiến phương Bắc và ý thức hệ Nho giáo áp đặt đó. Vì vậy ảnh hưởng Nho giáo chỉ ở một số nhỏ tầng lớp trên. Nho giáo từ Hán, Tống là một ý thức hệ về xây dựng con người “Thần dân” tuyệt đối. Đổng Trọng Thư, Chu Hy hình dung dân chúng là một tập hợp vô danh, không tồn tại với tư cách là các cá nhân cụ thể.
Trong thế giới đó, người chủ cao nhất là Trời, “hoạch tội vụ thiên, vô sở đảo giáo” (phạm tội với Trời thì không cầu đảo vào đâu được nữa). Ông chủ thứ hai là thiên tử - vua, vì vua là con trời, thay trời hành đạo (đại thiên hành hoá, thế thiên hành đạo). Dưới vua là chư hầu, đại phu và cuối cùng là dân, là tất cả đều “thần dân” bề tôi lệ thuộc vào thiên tử. Đó là trật tự tất yếu, do Trời sắp đặt.
Người quân tử chính là người do thực hiện bổn phận theo trật tự đó. Tư tưởng “thần dân” ảnh hưởng rất lớn đến hành xử của người quân tử, và chừng mực nào đó đã ảnh hưởng đến ứng xử của người dân. Từ thế kỷ X, nước ta giành được độc lập tự chủ. Cùng với sự phát triển của lực lượng phong kiến Việt Nam trải qua các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê, quan niệm chính thể của Nho giáo dần được giai cấp thống trị duy trì, vận dụng vào và góp phần đáng kể vào sự hưng thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam.
Thế kỷ XI trở đi khi triều đại nhà Lý thành lập chế độ phong kiến phát 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.